Huyền Không Lý Số
Left Nav Trang chủ Diễn Đàn Hỏi/Ðáp Lịch Âm Dương Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc Right Nav

Left Container Right Container
 
Ðăng nhập

« Ghi Danh »
» Quên mật khẩu «

Tìm Kiếm Chi Tiết

Giới Thiệu
Diễn đàn HKLS
Thông Báo
Góp ý
Hội thảo chuyên đề
Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Nhờ Tư Vấn
Tư vấn Phong Thủy
Dịch số
Nhờ xem Tử Vi
Nhờ xem Tử Bình
So tuổi Hôn nhân-Gia đình
Nhờ Xem Tướng
Nhờ xem ngày giờ
Đặt tên cho Bé

Diễn Đàn
Phong thủy
Dịch Số
Tử Vi
Tử Bình
So tuổi Hôn nhân-Gia đình
Nhân Tướng Học
Khoa học huyền bí
Trạch cát
Tủ Sách

Nghiệm Chứng
Phong Thủy
Dịch Số
Tử Bình
Tử Vi

Phòng Thảo Luận
Phòng Thảo Luận Tử Bình
Lớp sơ cấp Tử Bình
Phòng Giải Số Tử Vi 1
Phòng Giải Số Tử Vi 2
Phòng Thảo Luận Dịch Lý


Liên kết Ứng Dụng
Xem Lịch Âm Dương
Lấy Lá Số Tứ Trụ
Ngày giờ Sóc - Tiết Khí

Liên kết
Ấm Trà Dịch Lý

Lịch Âm Dương


Trở về   Huyền Không Lý Số » Diễn đàn » Tử bình

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Tìm trong bài Xếp Bài
  #1  
Cũ 29-10-12, 17:38
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default Lớp học Tứ Trụ cao cấp tự do cho tất cả mọi người

Lớp học Tứ Trụ cao cấp tự do cho tất cả mọi người
(Nội dung khóa học này tiếp tục khóa học sơ cấp và trung cấp vẫn thuộc cuốn "Giải Mã Tứ Trụ" của tôi).

Nội dung dậy như sau:
(Ở đây tôi sắp xếp lại thứ tự một số mục cho dễ hiểu)

Bài 17 : Phương pháp tính điểm hạn
Bài 18 : Các yếu tố cơ bản và các giả thiết của chúng
Bài 19 : Điểm hạn và khả năng của thiên can
Bài 20 : Điểm hạn và khả năng của địa chi
Bài 21: Điểm hạn và khả năng của Thiên Khắc Địa Xung (TKĐX)
Bài 22 : Điểm hạn và khả năng của hóa cục
Bài 23 : Điểm hạn và các tính chất của nạp âm
Bài 24 : Tính lại điểm vượng trong vùng tâm và điểm kỵ vượng
Bài 25 : Điểm hạn của hình, tự hình và hại.....
Bài 26 : Định luật giảm và điểm G
Bài 27 : Điểm hạn và tổng điểm hạn được giảm...
Bài 28 : Tiếp tục đi tìm các giả thiết mới

Các bài sau thuộc về phần “Mở Rộng“ của cuốn sách này:

Bài 29 : Khắc phối hôn (có các giả thiết từ 310 đến 332. Phần này có 28 ví dụ mẫu).
Bài 30 : Con cái khắc cha mẹ và cha mẹ khắc con cái (có các giả thiết từ 333 đến 348 . Phần này có 16 ví dụ mẫu).
Bài 31 : Dự đoán về phát Tài
Bài 32 : Dự đoán về phát Quan.

(Bài 31 và 32 tôi mới đang nghiên cứu nên chưa có khả năng đưa được số điểm vào để Cân Đo Đong Đếm xem chúng phát mạnh hay nhẹ như phần dự đoán tai họa).



Bài 17 : Phương pháp tính điểm hạn


Chương 13

Phương pháp tính điểm hạn

Từ chương này, bạn đọc bắt đầu làm quen với Phương Pháp Tính Điểm Hạn. Phương pháp này có khả năng tính điểm hạn (đh) cho từng năm một, nghĩa là xác định xem một năm bất kỳ có hạn hay không, hạn đó nặng hay nhẹ đến mức độ nào và tìm cách giải cứu cho hạn đó .

I – Tìm các quy tắc tính điểm hạn

Muốn biết hạn của một người tại một năm nào đó (được gọi là lưu niên) có hay không, nặng hay nhẹ,…. , ta phải tìm được các quy tắc tính các điểm hạn. Do vậy muốn tìm được các quy tắc này chúng ta phải bắt đầu từ các ví dụ trong thực tế đã xẩy ra các hạn, sau đó đi tìm các yếu tố nào có thể dẫn đến hạn đó. Các yếu tố gây ra hạn đó chính là các quy tắc tính điểm hạn và số điểm của từng quy tắc phải được điều chỉnh sao cho đúng với bản chất thực sự khách quan của chúng (cứ tạm thời coi điểm hạn của các quy tắc này tuân theo định luật Vật lý về mệnh học của Thuyết Vũ Trụ Hẹp). Khi biết được tổng số các điểm hạn đã gây ra hạn của năm đó, ta so sánh số điểm đó với mức độ nặng nhẹ của hạn đã xảy ra, sau đó mới có thể lập lên bảng điểm hạn để diễn tả mức độ hạn nặng nhẹ theo số điểm

II – Các nguyên nhân chính gây ra hạn

1 – Các nguyên nhân trong tứ trụ (từ ví dụ số 1 tới ví dụ số 137).
Phần lớn các hạn do chính các yếu tố trong tứ trụ của người đó gây ra, (chiếm khoảng 60% trong tổng số các hạn?). Các yếu tố này chính là các tổ hợp quá xấu giữa tứ trụ, đại vận, tiểu vận và lưu niên của người đó gây lên (như hình, xung, khắc, hại, hợp ,…..).

2 – Các nguyên nhân bên ngoài tứ trụ (từ ví dụ số 158 đến 203)
Các hạn do các yếu tố bên ngoài tứ trụ gây ra (chiếm khoảng từ 30 đến 40% ?):
a - Vợ khắc chồng, chồng khắc vợ, con cái khắc cha mẹ, cha mẹ khắc con cái... và kể cả các phương tiện vận chuyển giao thông....
b - Do phong thủy (tức là gió và nước trong lòng đất) của ngôi nhà hay khu đất người đó ở, hoặc không may đi vào vùng đất đúng vào giờ phút nó có sát khí quá nặng như vùng sông nước, vùng núi đá hiểm trở nguy hiểm, nơi có động đất, chiến tranh, khí độc...
c – Trong nhà hay dưới mặt đất của ngôi nhà
Đây là yếu tố mà mọi người thường gọi là nhà có ma. Những người ở trong các nhà này nhẹ thì chỉ bị ma quấy rầy, còn nặng thì bị ốm đau, tai nạn, có thể dẫn đến tử vong (thường là do trong nhà này có người chết oan ức hoặc dưới lòng đất của ngôi nhà đó có xương cốt của người chết hay ngôi nhà đó khi động thổ hay cất nóc vào các giờ cấm kỵ, tức là vào giờ tử…). Các yếu tố này thì tôi hoàn toàn không biết bởi vì tôi chưa được đọc một cuốn sách nào về lĩnh vực này.
d - Do chết bất ngờ
Như người đó không may đi trên một chiếc ô-tô, tầu thủy, máy bay….mà phương tiện vận tải đó đến ngày tận số, vì theo mệnh học chúng đều có tứ trụ, tức chúng đều phải có số mệnh (như chiếc tầu Titaníc chẳng hạn),…
Các hạn này do các yếu tố bên ngoài tứ trụ gây lên. Do vậy trong thực tế có rất nhiều tai họa đã xẩy ra (kể cả cái chết) không thể phát hiện bằng tứ trụ (mệnh) của người đó.

3 - Dự đoán hạn
Vì hạn do nhiều yếu tố gây ra như vậy, nên để dự đoán chính xác người ta thường phải kết hợp nhiều phương pháp dự đoán khác nhau. Tất cả các yếu tố này cùng một lúc tác động tới con người để gây ra hạn, và cái mà phản ánh nhanh nhất, chính xác nhất các hạn này chính là khuôn mặt của con người. Do vậy môn xem tướng mặt có thể phát hiện hạn xẩy ra trước vài tháng hay vài ngày, thậm chí có thể trước vài phút. Giá trị của môn xem tướng mặt là nó có thể giúp con người tránh được các hạn dược gây lên bởi các yếu tố bên ngoài của tứ trụ. Bởi vì các yếu tố này con người thường bị bất ngờ vì khó dự đoán trước được (trừ câu 2 phần a). Còn các yếu tố do tứ trụ (mệnh) của con người gây ra thì không có gì là bất ngờ cả, vì con người có thể dự đoán được nó từ khi mới sinh (kể cả câu 2 phần a).
Bởi vì tất cả các yếu tố này cùng một lúc tác động tới con người để gây ra hạn, do vậy phương pháp tính điểm hạn chỉ khi kết hợp được cả hai nguyên nhân này để xét điểm hạn cho mỗi hạn thì khả năng dự đoán chính xác mới có thể cao được (?). Hiện giờ tôi chưa có khả năng kết hợp được 2 nguyên nhân này để xét cho một hạn mà vẫn xét riêng từng nguyên nhân gây ra hạn. Hy vọng bạn đọc có thể giúp tôi giải quyết được vấn đề này.

Ví dụ về môn xem tướng mặt : Con của Trần Đoàn (Trần Đoàn tức Hi Di một nhà mệnh học nổi tiếng của TQ) một lần qua sông trên chiếc thuyền nhỏ, khi thuyền vừa rời bến đã hốt hoảng kêu lên “Không được đi nữa phải quay thuyền vào bờ ngay nếu không sẽ chết đuối hết”. Khi thuyền đã cập lại bờ thì bỗng nhiên có một người què cứ mặc nhiên chống nạng đi xuống thuyền, trong khi mọi người đang vội vã rời khỏi thuyền. Con của Trần Đoàn lúc đó lại kêu lên “Bây giờ thì chúng ta lại qua sông được vì đã có quý nhân đây rồi”. Khi con thuyền ra được giữa sông thì một cơn cuồng phong nổi lên làm con thuyền chao đảo như muốn lật úp, nhưng rồi nó cũng qua được tới bờ sông bên kia an toàn.

Vì sao con của Trần Đoàn lại dự đoán chính xác đến như vậy ? Trong sách có nói qua là khi thuyền vừa rời bờ con của Trần Đoàn nhìn thấy tất cả các lỗ mũi của mọi người trên thuyền đều có sắc ám mầu đen. Vì lỗ mũi là nơi lưu thông của hơi thở (tức là chỗ lưu thông của khí ngũ hành), cho nên khi có sắc ám mầu đen là hành của Thủy thì tất có tai họa về Thủy, do vậy phải rời khỏi sông nước ngay lập tức. Còn khi người què đi xuống thuyền thì lúc đó lỗ mũi của mọi người không còn sắc ám mầu đen nữa lên có thể tiếp tục qua sông. Tai họa này nếu có xẩy ra thì chúng ta không thể phát hiện qua Tứ Trụ của những người này được.

Đây là ví dụ tai họa về Thủy còn tai họa về đường hàng không (hay đường bộ) thì mầu sắc nào xuất hiện trên khuôn mặt hay lỗ mũi của mọi người đi trên máy bay (ô tô, tầu hỏa, …) sẽ báo hiệu sắp bị tai họa ? (hy vọng bạn đọc có thể giúp tôi trả lời câu hỏi này).

Những người giỏi về tướng mặt họ có thể nhìn và dự đoán khá chính xác mức độ nặng nhẹ của tai họa và khoảng thời gian sẽ xẩy ra tai họa đó.

(Tôi chưa tìm được một ví dụ nào có thể chứng minh tai họa được gây ra bởi cả 2 yếu tố này (bên trong và bên ngoài của tứ trụ)).
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: VULONG, 30-10-12 lúc 07:35
Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 2 Hội viên đã cảm ơn đến "VULONG" về bài viết có ích này:
  #2  
Cũ 29-10-12, 17:39
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

III - Điểm hạn với thực tế

Qua nhiều ví dụ tai họa đã xẩy ra trong thực tế nếu thừa nhận các điểm hạn chuẩn theo dự kiến của tôi như các điểm hạn của dụng thần, ngũ hành... cũng như các điểm hạn của hình, xung, khắc, hợp, hại, …., thì tổng điểm hạn tại một thời điểm của một năm có thể sẽ diễn tả được mức độ nặng hay nhẹ của tai họa đó như sau :

1 - Từ 4đh (điểm hạn) đến 4,4đh, chỉ có hạn nhẹ, có thể phải đến bệnh viện nhưng không phải nằm lại bệnh viện để điều trị.
2 - Từ 4,4đh đến 4,6đh, có hạn nặng, phải nằm điều trị ở bệnh viện, hoặc bị phá tài hay lao tù (dựa theo các thông tin của tứ trụ với tuế vận).
3 - Từ 4,6đh đến 4,8đh, hạn khá nặng có thể phải cấp cứu, hoặc bị phá sản hay lao tù nặng.
4 - Từ 4,8đh đến 4,9đh , hạn rất nặng có thể bị ngất.
5 - Từ 4,9đh đến 4,99đh, hạn cực nặng có thể tới mức chết lâm sàng.
6 - Từ 5,0đh trở lên có thể dẫn tới tử vong nếu không có cách nào giải cứu được.
Theo phương pháp này sai số có thể từ - 0,1đh tới + 0,1đh.


Chú ý: Số điểm này chỉ do các yếu tố giữa Tứ Trụ với tuế vận và tiểu vận gây ra - thường được gọi là yếu tố Tất Định (Trời định), chưa tính tới các yếu tố trong môi trường mà người đó sống tác động vào Tứ Trụ, tuế vận và tiểu vận của người đó - thường được gọi là yếu tố Bất Định (người, môi trường sống cũng như thời thế quyết định).

IV – Các bước bắt buộc phải thực hiện

A – Trong tứ trụ :
1 - Xác định tứ trụ.
2 - Xác định các hợp có hóa hay không hóa cục.
3 - Xác định các thiên khắc địa xung (TKĐX).
4 - Xác định điểm hạn và điểm vượng của ngũ hành trong vùng tâm.
5 - Xác định Thân là vượng hay nhược.
6 - Xác định dụng thần chính và vị trí của nó trong tứ trụ.
7 - Xác định các đại vận và thời gian của chúng.
8 - Xác định các cát thần và hung thần có khả năng gây ra điểm hạn của tứ trụ.

B - Tứ trụ với tuế vận (đại vận và lưu niên) và tiểu vận.
1 – Xác định can chi của năm cần dự đoán (lưu niên), cũng như xác định can chi của đại vận và 2 tiểu vận của năm cần dự đoán đó.
2 – Khi vào đại vận cần xác định tất cả các tổ hợp có hóa cục hay không hóa cục cũng như các TKĐX.
Đến lưu niên cũng phải xem như trên để xác định lại các tổ hợp và các TKĐX còn hay mất (vì đại vận thường xuất hiện trước lưu niên).
Xác định điểm vượng trong vùng tâm có phải tính lại hay không.
Xác định điểm hạn của các TKĐX, điểm hạn của các hóa cục cũng như của các Đại Chiến nếu có.
3 - Xác định điểm kỵ vượng của các can và chi.
4 – Xác định điểm hạn của dụng thần ở trong tứ trụ cũng như ở đại vận và lưu niên. Nếu xét hạn tại năm sinh thì dụng thần còn có thêm điểm hạn ở tháng cần dự đoán của năm đó.
5 – Xác định điểm hạn của Nhật can ở đại vận và ở lưu niên. Nếu xét hạn tại năm sinh thì Nhật can còn có thêm điểm hạn ở tháng cần dự đoán của năm đó.
6 – Xác định điểm hạn của các can khắc nhau kể cả các can trong hợp không hóa. Sau đó xác định đh của các can động này theo lệnh tháng, đại vận và lưu niên (thường được gọi là điểm hạn của can), cũng như đh của các cát thần và hung thần của các can chi ở tuế vận và tiểu vận (chú ý các can chi trong hợp hay trong tứ trụ không có điểm hạn của các thần này trừ Tứ Phế) .
7 – Xác định các điểm hạn của hình, tự hình, hại và tứ hình.
8 – Xác định điểm hạn của 4 chi giống nhau hợp với 1 chi không hóa hay 4 can hợp với 1 can.
8 – Xác định nạp âm của các trụ và tính điểm hạn của các nạp âm khắc nhau.
9 – Xác định đh Kình dương.
10 – Xác định đh thương quan gặp quan (chính quan).
11 – Xác định đh tuế vận cùng gặp.
12 – Xác định đh của các hóa cục trong tứ trụ bị phá.
13 - Tính tổng điểm hạn là bao nhiêu và xét xem tổng điểm hạn có được giảm hay không. Cuối cùng đó chính là điểm hạn của năm cần dự đoán, sau đó đối chiếu với bảng điểm hạn sẽ biết được hạn nặng hay nhẹ ra sao.

Qua các thông tin xuất hiện trong từng tai họa, chúng ta có thể dự đoán hạn đó có thể xẩy ra về bệnh tật, tai nạn, phá tài, bại quan hay lao tù. Điều quan trọng là cách giải cứu các hạn đó như thế nào? Nếu may mắn đã có người giải được và cho chúng ta biết thì thật quý báu vô cùng, nếu không chúng ta đành phải tự mình đi tìm cách giải cứu các hạn đó. Theo như sự hiểu biết của tôi thì đã có rất nhiều cách giải hạn hữu hiệu nhưng đáng tiếc hiện giờ chúng đang được cất dấu trong các cuốn sách gia truyền của một số người, không biết đến khi nào họ cho chúng ta biết các cách giải cứu đó?

Hiện tại chúng ta hy vọng những ai đã may mắn được các nhà mệnh học giải cứu sẽ cho chúng ta biết cách giải cứu đó như thế nào cùng với tứ trụ và năm hạn đó của họ cho mọi người biết qua các trang web lý số.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #3  
Cũ 29-10-12, 17:49
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Bài 18 - Các yếu tố cơ bản và các giả thiết của chúng
(Ở đây tôi sắp xếp lại thứ tự một số mục cho dễ hiểu)

Tuần Thứ Ba

Chương 14

Các yếu tố cơ bản và các giả thiết của chúng

I - Các yếu tố cơ bản gây ra điểm hạn

Thực chất của “Phương pháp tính điểm hạn” là từ các ví dụ cụ thể trong thực tế, chúng ta phải tìm ra các thông tin (giả thiết) có thể gây ra tai họa, sau đó chúng ta phải tự xác định điểm tai họa cho các thông tin này và điều chỉnh các điểm tai họa này cho phù hợp với càng nhiều ví dụ càng tốt.
Để tìm các điểm hạn thì chúng ta phải bắt đầu từ các yếu tố chính gây ra hạn đã được cổ nhân truyền lại tới bây giờ chủ yếu qua các định luật : Hình (1), xung (2), khắc (3), hại (4), hợp (5) ...ngoài ra tôi đã tìm ra một số các yếu tố mới như : Điểm hạn của can, điểm kỵ vượng .... Qua các ví dụ trong thực tế tôi đã xác định được các yếu tố chính này gây ra các điểm hạn (đh) như: +1đh ; +0,75đh, +0,5đh ; +0,25đh ; +0,13đh ; 0đh hay +0,3đh ; +0,15đh …cho các yếu tố xấu có thể gây ra tai họa và -1đh, -0,75đh, -0,5đh ; -0,25đh ; -0,13đh và 0đh cho các yếu tố tốt có thể ngăn chặn tai họa. Theo cách nhìn của các nhà Vật Lý thì các điểm hạn này không tuân theo cơ học cổ điển (các điểm hạn tăng có tính liên tục) mà tuân theo cơ học lượng tử (các điểm hạn tăng theo các bước nhẩy cố định). Do vậy chúng ta liên tưởng tới sự tương tác của ngũ hành là ở dạng khí trong thế giới vi mô (các hạt cơ bản vô cùng nhỏ).
Các yếu tố cơ bản này được viết tắt là cácY và các giả thiết của chúng chưa được xem là các quy tắc chính thức bởi vì hầu như đa số các giả thiết này tôi chưa có thêm các ví dụ để kiểm tra chúng có chính xác hay không.

II - Ứng dụng điểm hạn của ngũ hành

Y2 – Điểm hạn của dụng thần
Chú ý: Can làm dụng thần chính được gọi tắt là dụng thần.

31/20 - Nếu dụng thần ở tử, mộ hay tuyệt (các trạng thái ở tử, mộ hay tuyệt) tại lệnh tháng (chi của trụ tháng) có 0,5đh.
32/1 - Dụng thần ở tử, mộ hay tuyệt tại chi của lưu niên có 1đh.
33/5 - Dụng thần nhược (các trạng thái suy, bệnh, thai và dưỡng) tại lưu niên có 0đh.
34/2 - Dụng thần nhập mộ tại chi của đại vận có 1đh (bất kể Thân vượng hay nhược) :
35/126 - Tại năm sinh dụng thần có thêm điểm hạn ở tháng (chi của tháng đó) cần tính các điểm hạn (như tính ở lưu niên).
36/ (88/130) - Tại năm sinh, dụng thần tàng trong chi của Tứ Trụ bị khắc bởi can đại vận (cùng dấu) tại các tháng của lưu niên nếu can của tháng đó giống với dụng thần.
36a/28 - Vị trí của dụng thần chính trong tứ trụ (xem câu 2 phần I trong chương 10).
37/133 - Tại năm sinh, nếu Thân (Hỏa) vượng mà trong tứ trụ có 4 can là Hỏa, lệnh tháng là Tị hay Ngọ, kiêu ấn ít còn Thổ và Thủy quá yếu thì tại năm sinh dụng thần Thủy tàng chi bị khắc bởi các can Hỏa có cùng dấu ở trong tứ trụ hay ở tuế vận có max 1đh chỉ khi ở tuế vận hay ở các tháng của năm sinh xuất hiện can Hỏa có cùng dấu với dụng thần chính (?).
38/(1;25) - Dụng thần là can lộ hay tàng trong địa chi của tứ trụ, nếu can hay chi này hợp với tuế vận thì dụng thần được xem như vô dụng nên có 1đh, trừ trường hợp can hay chi mà dụng thần tàng hợp với tuế vận hóa cục có hành giống với hành của dụng thần (ví dụ 1). Nếu chi chứa dụng thần không hóa cục từ khi sinh mà nó không hợp với tuế vận hóa cục thì dụng thần có 1đh chỉ khi hành của dụng thần không giống hành của hóa cục này (ví dụ 25).
39/56- Nếu chi tàng chứa Dụng thần trong Tứ Trụ hợp với chi ở tuế vận có cùng hành với hành của dụng thần thì Dụng thần có thể không có 1đh khi tổ hợp này chỉ là lục hợp hay bán hợp không hóa (?).
40/15 - Can tàng chính tàng trong chi của tứ trụ vẫn có thể là dụng thần chính khi chi này hóa cục không cùng hành từ khi mới sinh.
41/127 - Nếu dụng thần chính tàng trong chi của tứ trụ ở trạng thái Lộc hay Kình Dương tại lệnh tháng mà bị tuế vận hợp thì dụng thần tàng ở trong các chi khác của tứ trụ có thể thay thế để làm dụng thần chính cho dù nó chỉ là can tàng phụ hay chúng chỉ ở trạng thái Lộc.

Y3 - Điểm hạn của Nhật can

61/6 - Nhật can nhập mộ đại vận chỉ khi Thân nhược mới có 1đh.
62/1 - Nhật can ở tử, mộ hay tuyệt ở lưu niên có 1đh.
63/2 - Nhật can nhược (các trạng thái suy, bệnh, thai và dưỡng) ở lưu niên có 0đh.
64/126 - Tại năm sinh Nhật can còn có thêm điểm hạn tại tháng cần tính điểm hạn (như tính ở lưu niên).
64a/ - Nếu nhật Can hợp với can tháng hay can giờ hóa thành hành khác với hành của Nhật Can (Cách hóa khí) thì hành của Nhật Can đã chuyển thành hành hóa khí, vì vậy lúc này Nhật can đã trở thành can giống can tàng trong lệnh tháng dẫn hóa cho hóa cục này.
64b/ - Nếu Nhật Can hợp với tuế vận hóa thành hành khác với hành của Nhật Can thì ta vẫn lấy dấu và hành của Nhật Can cũ để tính điểm hạn của nó ở tuế vận (nghĩa là hành của Thân không thay đổi).

Y5 – Can động và điểm hạn của can động

90 – Can động
90a - Can động, nó có nghĩa là can đó phải khắc (hay bị khắc) với (hay bởi) các can khác (xem phần lý thuyết về TKĐX) hay nó khắc các hóa cục. Các can động có điểm hạn riêng của chúng và điểm hạn này chỉ có ở các can lộ khi chúng ở trong trạng thái động, gọi tắt là điểm hạn của can. Nếu các can ở trong cùng tổ hợp không hóa khắc nhau thì chỉ có các can này là động (bởi vì chúng không có liên quan gì tới các can giống với chúng ở bên ngoài tổ hợp này).
90b/ - Tất cả các can ở trong hóa cục không có điểm hạn này.
90c/ - Can tiểu vận không có điểm hạn này.

Ví dụ : Bính đại vận hợp với Tân trụ năm không hóa thì Bính và Tân là động (vì Bính khắc Tân), nhưng Bính ở trụ ngày (hay trụ giờ) là tĩnh vì nó không hợp được với Tân trụ năm, nhưng Bính trụ ngày là động nếu khắc được các can khác như Canh ở lưu niên hay nếu nó bị khắc bởi Nhâm hay Quý ở lưu niên cũng như nếu nó khắc được Kim cục.

90d/ - Nếu các can ở tuế vận khắc với nhau hay chúng khắc các can trong tứ trụ thì các can giống với các can này ở trong tứ trụ là động nếu chúng khắc được nhau.

91 – Điểm hạn của các can động (điểm hạn Can)
91a/8 – Với các can ở trong tứ trụ thất lệnh và các can ở tuế vận :
Nếu chúng vượng ở lưu niên thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn của hành của chúng.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng ½ điểm hạn của hành của chúng.
Nếu chúng không vượng cả ở đại vận và lưu niên thì chúng có 0đh.
Các điểm hạn này giảm tỉ lệ thuận theo các lực khắc tới các can của chúng.

91b/2 - Với các can ở trong tứ trụ được lệnh :
Nếu chúng vượng ở lưu niên thì chúng không có điểm hạn.
Nếu chúng chỉ vượng ở đại vận thì chúng có điểm hạn chỉ bằng ½ đh của hành của chúng nhưng phải đổi dấu.
Nếu chúng nhược ở tuế vận thì chúng có điểm hạn đúng bằng điểm hạn của hành của chúng nhưng phải đổi dấu.
Các điểm hạn này không bị giảm khi các can của chúng bị khắc (phải thừa nhận).

91c/126 – Các trạng thái của các can tại năm sinh phải được xác định tại chi của tháng cần tính điểm hạn của năm đó.

(Trong Y7) - Điểm hạn của hóa cục
113/1- Điểm hạn của các hóa cục bằng chính tổng số các can hay chi có trong hóa cục đó nhân với ½ số điểm hạn của hành của hóa cục đó (trừ các chi trong tứ trụ đã hóa cục từ khi mới sinh có cùng hành).

(Trong Y1) - Điểm hạn kỵ vượng
14/6 - Nếu một hành là kỵ 1 có điểm vượng trong vùng tâm (hay sau khi tính lại điểm vượng trong vùng tâm hoặc sau khi tính thêm điểm vượng của tuế vận) lớn hơn hỷ dụng thần từ 10đv (sai số có thể từ -0,05đv tới +0,05đv) trở lên thì hành đó được gọi là hành kỵ vượng và nếu nó lớn hơn hỷ dụng thần từ 10đv đến 19,99đv thì mỗi can hay chi (trừ các chi trong tứ trụ) của hành kỵ vượng có thể có điểm (hạn) kỵ vượng bằng đúng điểm hạn của hành của nó (chú ý điểm kỵ vượng của can hay chi tiểu vận chỉ bằng ½ ), còn nếu nó lớn hơn từ 20đv trở lên thì mỗi can chi của nó có thể có điểm kỵ vượng gấp 2 lần số điểm hạn của hành của nó, trừ các giả thiết 14a/135; 22/17; 23/8; 24/11...).
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #4  
Cũ 29-10-12, 17:50
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Ví dụ mẫu:

Ví dụ 10 (trong cuốn "Giải Mã Tứ Trụ"): Bé trai Elgin Alexander Fraser (Canada) sinh ngày 10/4/2004 lúc 12,00’. Bị bệnh ung thư từ khi mới 8 tháng tuổi và được sống tới ngày 19/5/2007 lúc 19,45’.

Hình chụp với trung phong (Centre) Mike Fisher gần đây, khi còn sống
[Chỉ có Hội Viên mới xem được nội dung này.]

[Chỉ có Hội Viên mới xem được nội dung này.]

Ngày 19/5/2007 là năm Đinh Hợi thuộc đại vận (tức tiểu vận) Giáp Tuất (vì đã qua ngày sinh là 10/4). Mà mệnh này đến tháng 8/2012 mới bước vào đại vận đầu tiên là Kỷ Tị, vì vậy phải lấy tiểu vận để thay thế đại vận .
1 – Mệnh này Thân quá vượng mà kiêu ấn Hỏa ít (vì Ngọ hóa Thổ nhưng vẫn còn Đinh là tạp khí tàng trong Mùi không bị hóa Thổ) và thực thương đủ, vì vậy dụng thần đầu tiên phải là quan sát Ất tàng trong Thìn trụ tháng. Thổ là kỵ vượng.

.................................................. ................

Qua sơ đồ trên ta thấy:
a - Ất tàng trong Thìn trụ tháng là dụng thần nhập Mộ ở đại vận Tuất nên có 1đh (được ghi bên trái của Tuất đại vận, còn bên phải để ghi cho Nhật can) và Tử (hay Mộ hoặc Tuyệt) ở lưu niên Hợi có 1đh (được ghi bên trái của lưu niên Hợi)..
b - Nhật can Kỷ nhược ở lưu niên Hợi có 0đh (nếu nó vượng có -1đh còn Tử, Mộ hay Tuyệt có 1đh) (được ghi bên phải của lưu niên Hợi).
c - Lục hợp của Giáp đại vận với Kỷ trụ ngày hóa Thổ thành công có 0,5đh (vì tổ hợp này có 2 can mà điểm hạn của hành Thổ là 0,5 nên Thổ cục có 2.0,5.1/2đh = 0,5đh nhưng số điểm này bị Giáp trụ năm khắc mất hết bởi vì Giáp vượng ở lưu niên Hợi.
d - Kỵ thần Thổ có 30,28đv lớn hơn hỷ thần Kim 10đh nên Thổ là hành kỵ vượng và có điểm kỵ vượng. Do vậy mỗi can Giáp và Kỷ trong Thổ cục có 0,5đh kỵ vượng (điểm này không bị giảm khi điểm hạn của Thổ cục bị khắc).
Tuất đại vận xung Thìn trụ tháng nên Tuất là động cũng có 0,5 đh kỵ vượng.
Nếu Thổ có 30,4đv trong vùng tâm tức nó lớn hơn Kim 20đv thì các điểm kỵ vượng này được tăng gấp đôi.
e - Đinh lưu niên khắc Canh trụ giờ, vì vậy 2 can này được xem là động. mặc dù lực khắc này có 0đh vì Đinh nhược cả ở đại vận và lưu niên và dĩ nhiên Đinh không có điểm can vượng (nếu nó vượng ở lưu niên Hợi sẽ có 1đh đúng bằng điểm hạn của hành của nó, còn nếu nó chỉ vượng ở đại vận thì có 0,5đh). Canh trụ giờ mặc dù động nhưng nó thất lệnh và nhược cả ở đại vận và lưu niên nên không có điểm hạn can.
Giáp khắc Thổ cục nên Giáp thành động có -1đh, vì nó thất lệnh và vượng ở lưu niên Hợi.
f - Hợi thái tuế (chi của lưu niên) có 2 hung thần có 2.0,25đh (tất cả các hung thần đều có 0,25đh, còn cát thần đều có -0,25đh (nhưng nếu nó ở can chi tiểu vận thì điểm hạn của nó chỉ bằng 1/2).
g - Canh trụ giờ là Thương quan mặc dù gặp Quan là Giáp ở trụ năm nhưng nó không có điểm hạn vì Canh thất lệnh và nhược ở tuế vận.
h - Thân trụ năm hại Hợi thái tuế có 1đh (các điểm hạn về khắc, hình, tự hình hay hại của 1 can hay 1 chi với 1 can hay 1 chi khác đều có điểm lớn nhất là bằng 1đh, nạp âm khắc nạp âm cũng vậy).
k - Lửa đỉnh núi của đại vận có can của nó là Giáp vượng ở lưu niên nên khắc Đất mái nhà của lưu niên có 1đh.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: VULONG, 29-10-12 lúc 20:04
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #5  
Cũ 29-10-12, 17:52
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Bài 19 - Điểm hạn và khả năng của thiên can

Y4 – Điểm hạn và khả năng của thiên can

A - Điểm hạn của thiên can
65a/ - Các can khắc được các can khi hành của chúng khắc được nhau.
65b/ - Can trong tứ trụ không khắc được can ở tiểu vận và ngược lại.
65c/ - Can trong hợp không khắc được các can ngoài hợp và ngược lại.
66/1 - Một can vượng ở lưu niên (thái tuế) (lấy chi của lưu niên để xác định trạng thái vượng hay suy của nó) hay can tiểu vận vượng ở tiểu vận (lấy chi của tiểu vận để xác định trạng thái vượng hay suy của nó), nếu nó chỉ khắc một can có cùng dấu (tức là cùng dấu âm hay cùng dấu dương với nó) hay khác dấu thì lực khắc mà nó được sử dụng chỉ max là 1đk (chú ý các lực khắc của các can không bị giảm khi chúng khắc thêm các hóa cục), còn nếu nó khắc từ 2 can trở lên có cùng dấu hay khác dấu thì nó chỉ được sử dụng max là 1,5đk, nhưng nó chỉ có thể gây ra các điểm hạn như sau :

Nếu nó khắc 1 can cùng dấu thì nó chỉ gây ra max là 1đh.
Nếu……….......2 ………………………………........…... ............1,4 đh.
Nếu ……....…..3 ……………………………....……….... .............1,3 đh
Nếu .............4 .................................................. .....1,2 đh.
Nếu .............5 .................................................. .....1,1 đh.
Nếu .............6 .................................................. .....1,0 đh.

Nếu nó khắc các can khác dấu thì điểm hạn mà nó gây ra tương tự như các trường hợp ở trên nhưng chỉ bằng ½ .

67/16 - Nếu một can chỉ vượng ở đại vận (lấy chi của đại vận để xác định trạng thái vượng hay suy của nó) thì nó chỉ có max 0,5đk để khắc 1 can và nó chỉ có thể gây ra max 0,5đh, cũng như nó chỉ có max 0,75đk để khắc từ 2 can trở lên và nó chỉ có thể gây ra max 0,75đh.
68/1 - Nếu các can ở tuế vận mà nhược ở tuế vận (tức nhược cả ở đại vận và lưu niên) thì chúng không có khả năng khắc các can khác.
69/2 - Nếu các can ở trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận thì chúng chỉ có 0,25đk để khắc 1 hay nhiều can khác và chúng chỉ gây ra được max 0,25đh, còn nếu chúng thất lệnh và nhược ở tuế vận thì chúng không khắc được các can khác.
70/12 – Can đại vận hay can lưu niên khắc can tiểu vận thì điểm khắc của nó vẫn tính như bình thường nhưng điểm hạn mà nó gây ra bị giảm ½ .
71/1 – Can tiểu vận thì lấy chính chi tiểu vận để xác định trạng thái vượng hay suy của nó và điểm hạn mà nó khắc can đại vận và can lưu niên được tính như bình thường.
73/78 - Nếu có từ 4 can trở lên hợp với 1 can có ít nhất 0,5đh, còn từ can thứ 5 trở đi mỗi can được thêm …?đh.
74/8 – Lực khắc của các can bị khắc với các can khác giảm tỷ lệ thuận theo lực khắc chúng.

Ví dụ : Bính trong tứ trụ mà vượng ở lưu niên, nếu nó khắc được 1 Canh ở tuế vận thì khi đó Bính mới khắc được các Canh trong tứ trụ, vì vậy các lực khắc này gây ra các điểm hạn như sau :
a - Nếu nó khắc 2 Canh (một Canh ở tuế vận và một Canh ở trong tứ trụ) thì mỗi lực khắc gây ra 1,4.1/2.đh = 0,7đh với các Canh ở gần ; 0,7.1/2đh = 0,35đh với Canh cách 1 ngôi và 0,7.1/4đh = 0,18đh với Canh cách 2 ngôi.
b - Nếu Bính bị Nhâm hay Quý khắc có tổng cộng có 0,5đh thì mỗi lực của Bính khắc Canh sẽ bị giảm 50%đh.
c - Nếu Bính bị Nhâm hay Quý khắc tổng cộng có từ 1đh trở lên thì Bính không có khả năng khắc các can khác (tức là 1 Can bị khắc tổng cộng có xđh thì lực khắc của Can này với các Can khác bị giảm x%đh).

B – Khả năng và tính chất của thiên can
75/ - Các hóa cục chỉ có các chi trong tứ trụ không được tính trong các trường hợp đưới đây (bởi vì chúng không có khả năng tác động lên trên và các can cũng không có khả năng khắc được chúng) và ta quy ước các can chủ khắc nói dưới đây là vượng ở lưu niên nếu không nói nó nhược hay vượng.
75a/ - Nếu các can trong tứ trụ thất lệnh và nhược ở tuế vận thì chúng không có khả năng khắc các hóa cục.
Nếu các can trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận thì chúng chỉ có thể khắc mất ¼ điểm hạn của hóa cục.
Nếu các can chỉ vượng ở đại vận thì chúng chỉ có thể khắc mất ½ điểm vượng của các hóa cục và nếu các can vượng ở lưu niên thì chúng có thể khắc hết điểm hạn của các hóa cục.
75b/1 - Các can có khả năng dẫn hóa cho các tổ hợp của các địa chi hóa cục, trừ can tiểu vận chỉ dẫn hóa cho tổ hợp của chi tiểu vận hóa cục (xem câu 9 của phần III trong chương 6).
76/83 – Hành đầu tiên của các can hay các chi và hành mới của chúng sau khi chúng hóa cục vẫn có khả năng dẫn hóa cho 2 hành này.
77/29 - Các can trong tứ trụ không có khả năng khắc được các hóa cục của các can ở tuế vận với tiểu vận hay của tuế vận với nhau (bởi vì các hóa cục này ở quá cao) nhưng chúng khắc được các hóa cục này nếu có thêm hóa cục có cùng hành ở dưới (trừ các hóa cục có cùng hành của các chi trong tứ trụ) bởi vì các hóa cục này có khả năng liên kết với nhau và khi đó chúng được xem như một hóa cục.
77a/ - Các can trong tứ trụ có thể khắc hết điểm hạn của một hóa cục chỉ có 2 hoặc 3 can chi và khi đó chúng còn khắc được các can có cùng hành với hóa cục này.
78/30 - Các can trong tứ trụ không thể khắc được các hóa cục (kể cả hóa cục của các can ở tuế vận và tiểu vận bởi vì chúng có thể liên kết với nhau) có cùng hành có tổng số ít nhất 5 can chi nhưng các can có cùng hành với các hóa cục này không bị các can khác khắc chỉ khi các hóa cục này có ít nhất 5 can chi có điểm hạn.
79/31 – Các can trong tứ trụ không khắc được 2 hóa cục có cùng hành có ít nhất 4 can chi và các can cùng hành với các hóa cục này nếu hành của các hóa cục này là kỵ vượng.
80/(32;36;55) – Các can trong tứ trụ không khắc được một hóa cục có 4 hay 5 chi nhưng các can cùng hành với hóa cục này vẫn bị khắc như bình thường nếu hóa cục này không có ít nhất 2 chi có điểm hạn và điểm hạn này phải được gấp đôi.
...........................
86/76 – Hành của Thân là kỵ vượng mà trong tứ trụ có từ 5 can chi tỷ kiếp trở lên (kể cả can trụ ngày), nếu các can tỷ kiếp ở trong tứ trụ chỉ bị can của tuế vận khắc thì các lực khắc này không có điểm hạn nhưng các điểm hạn khác của các can này vẫn có và chúng vẫn bị giảm như bình thường (vd 76), nhưng nếu các can tỷ kiếp ở trong tứ trụ bị 1 can trong tứ trụ khắc thì tất cả các lực khắc sẽ có điểm hạn như bình thường (vd 36).
87/95 - Can đại vận khắc được dụng thần tàng trong chi trong tứ trụ chỉ khi nó cùng dấu với dụng thần và trong tứ trụ phải xuất hiện can giống với nó và can này không bị hợp, khi đó các can giống với nó ở các vị trí khác mới có thể khắc được dụng thần.
88/130 - Tại năm sinh, dụng thần tàng trong chi của Tứ Trụ bị khắc bởi can đại vận (cùng dấu) tại các tháng của lưu niên nếu can của tháng đó giống với dụng thần.
89/131 - Tại năm sinh nếu một can khắc can trụ năm và lưu niên thì điểm hạn của mỗi lực này bị giảm 50%.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: VULONG, 29-10-12 lúc 18:31
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #6  
Cũ 29-10-12, 17:54
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Ví dụ mẫu:

Ví dụ 12 (trong cuốn "Giải Mã Tứ Trụ"): Nam sinh ngày 21/5/1949 lúc 22,00’. Ônh ta bị phá sản vào năm 1989.

(Đây là ví dụ số 7 trang 539 trong cuốn “Dự Đoán Theo Tứ Trụ” của thầy trò Thiệu Vĩ Hoa).

Sau đây là sơ đồ tính điểm hạn và bài giải của tôi :

[Chỉ có Hội Viên mới xem được nội dung này.]

Năm 1989 là năm Kỷ Tị thuộc đại vận Ất Sửu, tiểu vận Kỷ Mùi và Mậu Ngọ.
1 – Nếu sử dụng giả thiết 27/12 (190/12) thì mệnh này Thân nhược mà kiêu ấn có 20đv nhiều hơn Thân, vì vậy kiêu ấn đã trở thành kỵ thần và nó là kỵ vượng bởi vì nó có 10đv nhiều hơn kỵ thần 1 là Hỏa (đây là trường hợp đặc biệt, vì Thân nhược thì Kiêu Ấn thường là hỷ thần nên điểm kỵ vượng của nó trong trường hợp này không được gấp đôi). Cho nên dụng thần đầu tiên phải là tỷ kiếp là Canh tàng trong Tị trụ tháng.

Ta nhận thấy Tài tinh Mộc ít và quan sát cũng ít, do vậy Mộc có tác dụng chế ngự kiêu ấn Thổ có lợi hơn là làm hao Thân, vì vậy Mộc là hỷ thần có -0,5đh, Hỏa có 1đh (vì nó sinh cho kỵ thần Thổ và khắc dụng thần Kim là xấu nhất) còn Thổ có 0,5đh và Thủy có 0,5đh.
.................................................. ..

Ta thấy:
a - Ất đại vận vượng ở lưu niên Tị, vì vậy nó có max 1,5đk (điểm khắc) để khắc các can khác. Nhưng ở đây nó khắc 5 can nên chỉ có thể gây ra max là 1,1đh. Do vậy mỗi lực khắc chỉ có thể gây ra 1.1: 5 đh = 0,22 đh , riêng điểm hạn của lực khắc Kỷ tiểu vận bị giảm ½ còn 0,11 đh.

3 Kỷ trong Tứ Trụ thuộc hành Thổ là hành kỵ vượng bị can đại vận khắc nên có điểm kỵ vượng, vì vậy mỗi can này có 0,5 đh kỵ vượng, khi đó Kỷ lưu niên và Kỷ tiểu vận cũng bị khắc mới có điểm kỵ vượng. Kỷ lưu niên có 0,5đh còn Kỷ tiểu vận chỉ có 0,5.1/2 = 0,25 đh kỵ vượng.

Mỗi điểm kỵ vượng này bị khắc 0,22 đh nên chỉ còn 0,5.0,78 = 0,39 đh (chú ý Kỷ lưu niên có thêm 0,5 đh can động, nó cũng bị giảm như điểm kỵ vượng), riêng điểm hạn của Kỷ tiểu vận còn 0,25.0,89 = 0,22 đh.

Ất đại vận vượng ở lưu niên có -0,5đh. Các Kỷ trong Tứ Trụ được lệnh và vượng ở lưu niên nên không có điểm vượng của can động.

....................

Có 2 Hợi trong Tứ Trụ khắc Tị thái tuế nên tổng điểm hạn được giảm 50% (tức chúng có khả năng giải cứu). Điều này hầu như các cao thủ Tử Bình từ Cổ tới Kim không hề biết (?), nếu có biết chắc chỉ có “Manh phái” của người mù biết mà thôi (?), dĩ nhiên nó thuộc Bí Kíp nên họ không bao giờ truyền cho người sáng mắt cả.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: VULONG, 29-10-12 lúc 20:05
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #7  
Cũ 29-10-12, 18:01
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Bài 20 - Điểm hạn và khả năng của địa chi

Y6 – Điểm hạn và khả năng của địa chi

92/ - Theo “Phương Pháp Tính Điểm Hạn” thì chi đại vận ở trạng thái động đầu tiên, vì vậy nó có thể tác động (như xung, khắc, hình, hại, hợp) với các chi khác đầu tiên, sau đó mới đến các chi trong tứ trụ và chi tiểu vận, cuối cùng mới là Thái tuế (chi của lưu niên). Nếu các chi này tác động được với nhau thì khi đó các chi giống với chúng ở trong tứ trụ (không bị hợp) mới có khả năng như vậy (trừ chi tiểu vận).

1 - Điểm hạn của địa chi
92a/ - Các chi động trong tứ trụ hay giữa tứ trụ với tuế vận xung hay khắc với nhau gần cũng như chi của đại vận xung hay khắc với chi của lưu niên (thái tuế), mỗi lực có 0,3đh nếu chúng không là Thổ, và 0,15đh nếu chúng là thổ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi). Chi đại vận xung hay khắc với chi tiểu vận cũng như chi của tiểu vận xung hay khắc chi của lưu niên chỉ có 0,15đh nếu chúng không là Thổ và 0,07đh nếu chúng là Thổ. Các chi trong tứ trụ xung hay khắc nhau điểm hạn bị giảm ½ nếu chúng cách 1 ngôi và ¾ nếu chúng cách 2 ngôi.
92b/ – Riêng Thái tuế (chi của lưu niên) bị các chi khác (kể cả chi tiểu vận) khắc, mỗi lực có thêm 1đh, còn Thái tuế bị xung (kể cả các chi là Thổ) mỗi lực có thêm 0,5đh.
92c/ – Riêng lệnh tháng (chi của trụ tháng) bị các chi khác khắc gần có thêm 0,5đh, còn nó bị xung gần có thêm 0,25đh.
(Chú ý : Các lực xung hay khắc gây ra các điểm hạn này không liên quan đến điểm vượng của chúng).

2 - Các lực xung, khắc hay hợp của các địa chi
93a/ - Ở đây, các chi không cần phải động và các lực này chỉ để xét khả năng tranh hay phá hợp của các địa chi. Các lực này hoàn toàn phụ thuộc vào độ vượng của chúng ở lưu niên (năm cần dự đoán).
93b/ - Các chi trong tứ trụ và chi tiểu vận với các chi ở tuế vận cũng như chi đại vận với chi lưu niên (thái tuế), chúng đều được xem là gần nhau.
93c - Lực xung, khắc hay hợp của các địa chi trong tứ trụ từ khi mới sinh (khi tuế vận được xem như chưa xuất hiện) được xác định bởi chính điểm vượng của chúng tại lệnh tháng (chi của trụ tháng).
93d/ - Lực xung, khắc hay hợp của các địa chi tại một năm (lưu niên) bất kỳ được xác định bởi điểm vượng của chúng ở lưu niên đó như sau :
Điểm vượng của các chi trong tứ trụ chính là điểm vượng trung bình của chúng tại lệnh tháng, đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Điểm vượng của chi tiểu vận và đại vận chính là điểm vượng trung bình của chúng tại chi đại vận và 2 lần tại chi của lưu niên.
Điểm vượng của chi lưu niên là điểm vượng của nó tại chi của lưu niên. (thái tuế)

a - Lực hợp của các địa chi bị giảm
94/ - Lực hợp của 1 chi với y chi bị giảm :
94a/21 - (y - 1)/y.đv nếu nó hợp với mỗi chi gần.
94b/ - 1/3.(y - 1)/y.đv nếu nó hợp với chi cách 1 ngôi.
94c/ - 1/2.(y - 1)/y.đv ...................................... 2 ngôi.

b - Lực xung hay khắc của các địa chi
95/ Lực của 1 chi xung hay khắc với 1 hay nhiều chi và hợp với y chi bị giảm :
95a/19 - y/(y + 1).đv nếu nó xung hay khắc với mỗi chi gần.
95b/56 - y/(y + 1).đv và thêm 1/3.đv nếu nó xung hay khắc với mỗi chi cách 1 ngôi.
95c/89 - y/(y + 1).đv và thêm 1/2.đv ....................................với mỗi chi cách 2 ngôi.

3 - Các lực trên bị giảm thêm như sau :
96a/(30;70;79;89) - 2/3.đv nếu nó hợp, xung hay khắc với chi cách 1 hay 2 ngôi mà nó phải sinh, khắc (hay bị khắc) với (hay bởi) chi gần với nó (chỉ xét về ngũ hành) ở trong tứ trụ giữa chúng (kể cả chi này bị hợp nhưng không hóa cục). (vd 68; 77).
96b/ - ½.đv nếu nó, hợp, xung hay khắc với chi cách 2 ngôi mà nó phải sinh, khắc (hay bị khắc) với (hay bởi) chi (chỉ xét...) cách 1 ngôi giữa chúng (kể cả chi này ...).
96c/ - 2/3. ½.đv nếu nó hợp, xung hay khắc với chi cách 2 ngôi mà nó phải sinh, khắc (hay bị khắc) với (hay bởi) cả chi gần và cách 1 ngôi (chỉ xét ...) ở trong tứ trụ giữa chúng (kể cả các chi này ...).

4 - Khả năng phá hợp và các tính chất của địa chi
97/ Các quy ước : Một chi xung hay khắc với tam hợp hay tam hội có X chi, nghĩa là tổ hợp này có tổng cộng X chi, còn với lục hợp hay bán hợp có X chi thì có nghĩa là chỉ có nhiều nhất X-1 chi trong tổ hợp hợp với chi này.
98/7 - Nếu các địa chi xung nhau phá được hóa cục thì cũng phá được tổ hợp của nó (còn các TKĐX có thể phá được cả cục và hợp hoặc vẫn còn hợp).
99/77 - Nếu giữa tứ trụ, tiểu vận và tuế vận có 4 chi hợp với 1 chi không hóa thì mỗi chi có 0,4đh, riêng chi tiểu vận có 0,2đh chi thứ 5 trở đi mỗi chi được thêm.... đh ?
100/(19;22;61) - Tý, Ngọ, Mão và Dậu giữa tiểu vận và tuế vận xung với nhau chỉ phá được bán hợp, lục hợp hay tam hợp có 3 chi, trừ chi tiểu vận tử, mộ hay tuyệt ở tuế vận.
101/61 - Nếu Mão hay Dậu ở tiểu vận mà tử, mộ hay tuyệt ở tuế vận thì nó xung tuế vận phá được các bán hợp hay lục hợp chỉ khi có thêm TKĐX với trụ có chi đó.
102/64 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu xung gần với nhau luôn luôn phá được bán hợp hay lục hợp (trừ câu 101/61).
103/ - Dần, Thân, Tị và Hợi hay Thìn, Tuất, Sửu và Mùi xung với nhau phá được các bán hợp hay lục hợp chỉ khi lực xung của nó bằng hay lớn hơn lực hợp và khi chúng xung gần nhau có thể phá được tam hợp không hóa có 3 chi nếu lực xung của chúng bằng hay lớn hơn lực hợp của tam hợp đó.
104/20 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu trong tứ trụ xung gần với nhau phá được tam hợp trong tứ trụ hay tam hợp ngoài tứ trụ có 4 chi (bởi vì lực liên kết của tam hợp ngoài tứ trụ có 4 chi chỉ tương đương với tam hợp trong tứ trụ có 3 chi), còn nếu chúng xung với nhau giữa tứ trụ với tuế vận hay giữa lưu niên với đại vận thì chúng chỉ phá được tam hợp có 3 chi không hóa.
105/21 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu trong tứ trụ xung nhau gần chỉ phá được tam hội ngoài tứ trụ có 3 chi (bởi vì lực hợp của nó chỉ tương đương với lực hợp của tam hợp trong tứ trụ có 3 chi).
106/61 - Tý, Ngọ, Mão và Dậu cách 1 hay 2 ngôi trong tứ trụ xung nhau không phá được tam hợp hay tam hội nhưng phá được bán hợp hay lục hợp khi lực xung của nó không nhỏ hơn lực hợp.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #8  
Cũ 29-10-12, 18:02
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Ví dụ mẫu:

Ví dụ 67 (trong cuốn "Giải Mã Tứ Trụ"): Nam sinh ngày 29/2/1956 lúc 2,30’sáng. Anh ta bị cấp cứu vì bệnh gan vào mùa hè năm 2004.
[Chỉ có Hội Viên mới xem được nội dung này.]

Mùa hè năm 2004, nó là năm Giáp Thân thuộc đại vận Ất Mùi và tiểu vận Mậu Dần.
1 - Tứ trụ này có Thân vượng mà kiêu ấn nhiều, vì vậy dụng thần đầu tiên phải là tài tinh Tân tàng trong Sửu trụ giờ. Mộc là kỵ vượng.
................................................

Theo lý thuyết ta thấy 2 Dần trong Tứ Trụ và Dần Tiểu vận cùng xung thái tuế Thân, trong đó :
Dần trụ ngày xung thái tuế Thân có 0,3đh và thêm 0,5đh (vì thái tuế bị xung)
Dần tiểu vận xung từ trong tiểu vận ra ngoài là thái tuế nên có 0,3đh và thêm 0,5đv (chú ý: chi đại vận xung hay khắc chi tiểu vận chỉ có 0,13đh nếu chi không là Thổ, và 0,07đh nếu chi là Thổ).
Dần trụ tháng xung thái tuế có 0,3 đh và thêm 0,5 đh, khi đó thái tuế khắc lại Dần lệnh tháng có 0,5đh.
Có Dần trong Tứ Trụ xung thái tuế Thân nên nó mới có thể xung được Thân trụ năm, vì vậy Dần trụ ngày xung Thân trụ năm có 0,3.1/2đh = 0,15đh (vì cách 1 ngôi). Dần trụ tháng xung Thân trụ năm có 0,3đh, vì vậy Thân trụ năm khắc lại Dần lệnh tháng có 0,5đh.

Canh trụ tháng hợp với Ất đại vận không hóa nên Canh thất lệnh và vượng ở lưu niên (Thân) có -1đh can động và khắc Ất đại vận có 1.1/2đh = 0,5đh (vì trái dấu). Ất đại vận có 0,5.1/2đh kỵ vượng = 0,25đh (đây là trường hợp đặc biệt, vì chỉ có can đại vận (Ất) thuộc hành kỵ vượng mà bị Can trong Tứ Trụ (Canh) hợp và khắc mới có điểm kỵ vượng còn Giáp lưu niên cũng thuộc hành kỵ vượng hợp và khắc Kỷ trong Tứ Trụ nhưng không có điểm kỵ vượng).

Dần tiểu vận thuộc hành kỵ vượng nên xung thái tuế thành động mới có 0,5.1/2đh = 0,25đh kỵ vượng (vì nó là chi tiểu vận).
Mùi đại vận xung Sửu trụ giờ có 0,15đh.

Có 3 Dần xung thái tuế Thân nên có 2,5G (điểm giảm), nó tương đương với tổng điểm hạn được giảm ¼.

3 Dần (Mộc) xung khắc 2 Thân (Kim), vì vậy Kim và Mộc đều bị tổn thương. Mộc đại diện cho gan, và Mộc tử tuyệt vào mùa hè còn Kim thì vượng (tháng Ngọ và Mùi) nên vào mùa hè người này đã bị bệnh về gan.
.........................

(Chú ý: Tất cả các chi trong Tứ Trụ không có khả năng hình, tự hình hay hại chi đại vận nhưng chi tiểu vận và thái tuế có thể hình, tự hình và hại chi đại vận. Còn khi chi đại vận bị hợp thì tất cả các chi đều có khả năng hợp, xung hay khắc chi đại vận với mục đích chỉ để tranh phá hợp nên các lực này không gây ra điểm hạn.)
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: VULONG, 29-10-12 lúc 20:06
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #9  
Cũ 29-10-12, 18:25
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Bài 21: Điểm hạn và khả năng của Thiên Khắc Địa Xung (TKĐX)

Y8 - Điểm hạn và khả năng của TKĐX

A - Điểm hạn của TKĐX hoàn toàn phụ thuộc vào can chủ khắc của nó như sau :

156a/ - 1 trụ TKĐK (có can và chi của nó đều là chủ khắc) với 1 trụ khác:
Nếu can chủ khắc của nó vượng ở lưu niên thì nó có 1đh.
Nếu can chủ khắc của nó chỉ vượng ở đại vận thì nó chỉ có 0,75đh.
Nếu can chủ khắc của nó ở tuế vận mà nhược ở tuế vận thì nó chỉ có 0,5đh.
Nếu can chủ khắc của nó ở trong tứ trụ được lệnh nhưng nhược ở tuế vận thì nó có 0,5đh.
Nếu can chủ khắc của nó ở trong tứ trụ mà thất lệnh và nhược ở tuế vận thì nó chỉ có 0,25đh.

156b/(42;53a;70) - Điểm hạn của TKĐX bị giảm 2/3 nếu can chủ khắc của nó bị khắc bởi ít nhất 1 lực có 1đh (vd 42 ;157c) và TKĐX là vô dụng nếu can chủ khắc của nó bị khắc bởi ít nhất 2 lực cùng có 1đh (vd 70). Ðiểm hạn của TKĐX bị giảm 1/4 nếu can chủ khắc của nó bị khắc it nhất bởi 2 lực cùng có 0,7đh (vd 53a).
157/ – Nếu 1 trụ TKĐX (có can của nó là chủ khắc nhưng chi của nó chỉ là chủ xung hay các chi của nó là Thổ (hành của nó là Thổ)) với 1 trụ khác thì điểm hạn của nó hoàn toàn tương tự như các trường hợp TKĐK nhưng nó bị giảm ½ .
158/(68;161) – TKĐX* (có chi là Thìn và Tý) chỉ có khi các chi của nó ở gần nhau và các chi này không cùng ở trong tam hợp, khi đó điểm hạn của TKĐX* chỉ bằng 2/3 điểm hạn của TKĐX.
159/(12...) - Giữa tứ trụ với tuế vận và tiểu vận nếu có các TKĐX (kể cả TKĐX*) thì ngoài điểm hạn chính của chúng, chúng còn được thêm điểm hạn phụ như sau:
Nếu chúng có 2 trụ TKĐX với nhau thì chúng có thêm 0,05đh.
Nếu .............. 3 ................. .............................................0,1đ h.
Nếu................4 .................................................. ............ 0,3đh.
Nếu................5 .................................................. ............ 0,3.2đh.
Nếu................6 .................................................. ............ 0,3.5đh
Nếu ...............7 .................................................. .............0,3.8đh ?

B - Các tính chất của TKĐX

159a/ Một trụ TKĐX (là nói chung cho cả TKĐK, TKĐX* và TKĐK*) với tam hợp hay tam hội có X chi, nghĩa là tổ hợp này có tổng cộng X chi, còn với lục hợp hay bán hợp có X chi thì có nghĩa là chỉ có X-1 chi trong tổ hợp hợp với chi này.
160/(12) - Nếu đại vận hay lưu niên TKĐX với tiểu vận thì điểm hạn của nó bị giảm ¾.
160a/27 - Nếu tiểu vận TKĐX với đại vận hay lưu niên thì điểm hạn của nó được tính như bình thường.
160b/7 – 1 trụ có khả năng TKĐX với các bán hợp và ngũ hợp (ví dụ 125) hay các tam hợp và tam hội không hóa có từ 3 chi trở lên (ví dụ 53a) nhưng nó không có khả năng TKĐX với tam hợp cục hay tam hội cục có ít nhất 4 chi.
(Chú ý : TKĐX với bán hợp hay tam hợp là chỉ tính chi của trụ TKĐX với các chi hợp với nó, còn TKĐX với tam hợp hay tam hội là tính tất cả các chi có trong tổ hợp đó).
161/55 – Nếu có it nhất 2 trụ giống nhau mà chúng chỉ TKĐX với 1 trụ khác thì điểm hạn của mỗi TKĐX được tăng ¼ .
162/(55;113;157a) – Một trụ (hay nhiều trụ giống nhau) TKĐX với ít nhất 2 trụ giống nhau thì điểm hạn của mỗi TKĐX bị giảm ¼ và nếu can chủ khắc khắc được 2 can của 2 trụ giống nhau này có điểm hạn thì điểm hạn của mỗi TKĐX bị giảm thêm ít nhất ¼ đh..
163/62 - Nếu tuế vận cùng gặp hay 2 trụ giống nhau ở trong tứ trụ TKĐK với các trụ khác giống nhau thì điểm hạn chính của mỗi TKĐK này được tăng gấp đôi, khi đó các trụ khác giống với hai trụ này TKĐK với các trụ đó điểm hạn cũng được tăng gấp đôi (hay 25% , 50% ?).
164/ - Các điểm kỵ vượng tại các can chi của một hóa cục vẫn còn khi điểm hạn của hóa cục này bị can khắc mất hết và dĩ nhiên điểm vượng của các can chi của hóa cục này không bị giảm.
165/55 – Nếu 1 trụ TKĐX với các trụ có các chi giống nhau của một tam hợp hay tam hội thì chúng chỉ được coi là TKĐX với 1 trụ của tam hợp hay tam hội đó.
166/(55;60;115) - Nếu lưu niên và trụ trong tứ trụ đang mang vận hạn TKĐX với nhau thì tất cả các điểm hạn của các lực xung hay khắc tới trụ này đều được tăng gấp đôi (riêng với lực của TKĐX được tính cả 2 chiều), nhưng nếu can của lưu niên là chủ khắc mà nhược ở tuế vận thì điểm hạn của các lực xung hay khắc vào trụ này không được tăng gấp đôi (trừ khi có thêm ít nhất 1 trụ giống với lưu niên TKĐX với trụ đang mang vận hạn (?)).
167/ - (bỏ vì sai).
168/ – Nếu lưu niên và trụ đang mang vận hạn TKĐX* với nhau thì các điểm hạn của các lực xung hay khắc vào trụ này được tăng gấp đôi ? (chưa có ví dụ để chứng minh).
169/128 - Tại năm sinh nếu trụ năm và lưu niên TKĐX với 1 trụ thì điểm hạn của các TKĐX này không được tăng ¼ (nhưng 1 trụ TKĐX với trụ năm và lưu niên vẫn bị giảm ¼ ?)
170/129 – Nếu tại năm sinh có một trụ trong tứ trụ và trụ năm (là trụ đang mang vận hạn) TKĐX với nhau thì tất cả các điểm hạn của các lực tác động vào trụ năm được tăng gấp đôi (kể cả các lực hình, tự hình và hại)
171/134 - Dưới 12 tháng tuổi nhưng khác năm sinh nếu trụ năm bị 1 trụ trong tu tru TKĐX thì các điểm hạn của các lực xung hay khắc vào trụ năm chỉ được tăng ½.
172/59 - TKĐX là vô dụng khi nó có ít nhất 1 can của nó là tranh hợp thật hay can chủ khắc của nó hóa cục.

C – Các chi của TKĐX hóa cục

173/(74;157b) - Nếu 4 trụ tạo thành hai cặp TKĐX khác nhau mà 4 chi của chúng hợp với nhau hóa thành 2 cục cùng một lúc và khắc nhau thì các TKĐX này chỉ phá được các hóa cục (trừ tam hội cục) nhưng vẫn còn các tổ hợp của chúng và các TKĐX này không có điểm hạn, trừ trường hợp 2 cặp TKĐX này có ít nhất 1 chi của chúng là Thổ thì các hóa cục này vẫn bị phá (trừ tam hội cục) và các TKĐX vẫn có các điểm hạn như bình thường (riêng tam hợp cục vẫn còn tổ hợp nếu nó chỉ bị TKĐX bởi 2 cặp TKĐX này).
174/146 - 2 chi của TKĐX không phải Thổ đều hóa cục có hành giống hành của chi của chúng, nếu TKĐX và 2 hóa cục này cùng xuất hiện một lúc thì các cục bị phá (trừ tam hợp cục và tam hội cục) nhưng còn lại các tổ hợp của chúng và các TKĐX này không có điểm hạn.
175/57 - Nếu 2 chi của TKĐX không phải Thổ đều hóa cục nhưng ít nhất có một hóa cục có hành không giống hành của chi của nó thì các hóa cục này vẫn bị phá (trừ tam hợp và tam hội) và điểm hạn của TKĐX vẫn có như bình thường.
176/61 - Nếu hai chi của TKĐK không là Thổ hóa thành 2 cục có hành giống hành của các chi của chúng thì TKĐX thành vô dụng khi trong chúng có ít nhất 1 hóa cục có trước TKĐX này.
177/89 – Nếu 2 chi của TKĐK không phải Thổ hóa cục có hành giống hành của các chi của chúng thì các hóa cục này không bị phá mà điểm hạn TKĐX được tăng gấp đôi chỉ khi TKĐX xuất hiện trước 2 hóa cục này hay cùng với một hóa cục nhưng trước hóa cục kia.

D - Khả năng phá hợp của TKĐX

177a/ - Nếu các tổ hợp và các thiên khắc địa xung cùng xuất hiện thì các tổ hợp luôn luôn được tạo thành trước, sau đó chúng mới bị thiên khắc địa xung bởi các trụ.
178/(37;42) – 1 trụ TKĐX với bán hợp cục hay lục hợp cục có thể phá được cục nhưng vẫn còn tổ hợp của nó và phá được tổ hợp nếu nó không hóa cục nhưng nó không thể phá được các hóa cục trong tứ trụ từ khi mới sinh nếu 2 chi của TKĐX này là Thổ.
179/60 – 2 trụ thiên khắc địa xung giữa tuế vận với Tứ trụ hay giữa tuế vận (kể cả tiểu vận) với nhau chỉ có thể phá được tam hợp không hóa có 3 chi giữa Tứ trụ với tuế vận nếu 2 chi của thiên khắc địa xung này là Tý với Ngọ hay Mão với Dậu còn nếu 2 chi này là Dần với Thân hay Tị với Hợi hoặc 2 chi này là Tý với Ngọ hay Mão với Dậu xung cách ngôi trong Tứ Trụ thì lực xung này phải không nhỏ hơn lực hợp.
180/(64;125) - Nếu 1 trụ TKĐK với 1 trụ mà chi của nó hợp với 3 chi giống nhau hóa cục thì TKĐX phá được cục này nhưng vẫn còn hợp và TKĐX phá được tổ hợp nếu chi này hợp với ít nhất 4 chi giống nhau không hóa.
181/136 - Nếu can của ngũ hợp ở tuế vận là chủ khắc hợp với can ở tuế vận và can trong tứ trụ thì liên kết của can chủ khắc với can ở tuế vận bị phá khi trụ của can bị khắc ở tuế vận TKĐX với trụ khác
182/ - (bỏ vì sai)
183/66 - Tam hợp cục bị phá cả cục lẫn hợp của nó khi có ít nhất 3 trụ TKĐX với nó.
184/55 – Nếu 2 trụ TKĐX với 1 trụ của tam hợp cục có 3 hay 4 chi (còn 5, 6...chi ?) thì chúng chỉ phá được cục nhưng vẫn còn hợp của nó và phá được hợp nếu nó không hóa cục.
185/157 - 2 trụ TKĐX với 2 trụ của tam hợp cục phá được cả cục và tổ hợp của nó.
186/(28;49) - Tam hội trong tứ trụ không hóa bị phá khi có ít nhất 2 trụ TKĐX với 2 trụ của nó còn tam hội hóa cục ngoài tứ trụ có 3 chi bị phá cả cục và hợp của nó.
187/146– Từ 3 trụ trở lên TKĐX với ít nhất 2 trụ của tam hội cục trong tứ trụ mới có thể phá được cả cục và hợp của nó.
188/(69;113) - Chỉ có 2 trụ TKĐX* với nhau không phá được bán hợp của Tý với Thìn tại các chi của TKĐX* và TKĐX* này không có điểm hạn nếu 2 chi của nó hóa Thủy nhưng nếu có 2 trụ TKĐX* (hoặc 1 trụ TKĐX và 1 trụ TKĐX*) với 1 trụ của bán hợp này thì chúng phá được cả cục và hợp tại chi của trụ đó.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
  #10  
Cũ 29-10-12, 18:28
VULONG's Avatar
VULONG VULONG is offline
Hội Viên Tích Cực
 
Tham gia ngày: Jan 2011
Đến từ: Germany
Bài gửi: 470
Hội Viên thứ: 1820
Đã cảm ơn: 2
Được cảm ơn: 481 lần
trong 292 bài viết
VULONG is on a distinguished road
Default

Ví dụ mẫu:

Ví dụ 49 (trong cuốn "Giải Mã Tứ Trụ"): Đây là Tứ Trụ của cụ Thiệu Ung (Thiệu Khang Tiết) một đại sư lừng danh của Trung Quốc (mà cụ Thiệu Vĩ Hoa là cháu nội đời thứ 29) do nick LingLingLing đã đưa ra thách đố tôi dự đoán trong chủ đề “Uyên Hải Tử Bình - Thiệu Vĩ Hoa” tại mục Tử Bình bên trang web tuvilso.com (nay là tuvilyso.org) vào khoảng đầu năm 2007.

Xét hạn năm Đinh Dậu thuộc đại vận Đinh Dậu tức tuế vận gặp nhau

Sơ đồ mô tả các điểm hạn như sau:
[Chỉ có Hội Viên mới xem được nội dung này.]

Năm cụ Thiệu Ung 46 tuổi là năm Đinh Dậu thuộc đại vận Đinh Dậu, tiểu vận Đinh Hợi và Bính Tuất. Ta xét tiểu vận Bính Tuất.
1 - Mệnh này Thân vượng mà kiêu ấn đủ, quan sát cũng đủ nên dụng thần đầu tiên phải là thực thương Đinh tàng trong Tuất ở trụ giờ.
2 – Trong tứ trụ có tam hội Hợi Tý Sửu không hóa.
3 – Năm Đinh Dậu và đại vận Đinh Dậu tức tuế vận cùng gặp có 1đh (vì đinh vượng ở lưu niên).
4 - Dụng thần Đinh mộ ở lệnh tháng nên có 0,5đh và vượng ở lưu niên có -1đh.
5 - Nhật can Giáp nhược ở lưu niên có 0đh.
6 – Đinh đại vận và Đinh lưu niên đều vượng ở lưu niên có -1đh và khắc 2 Tân, vì vậy mỗi lực có 0,7đh.
2 Tân thất lệnh nhưng vượng ở lưu niên, vì vậy mỗi Tân có -0,5đh nhưng bị 2 Đinh khắc còn -0,5.0,3.0,3đh = .0,05đh.
Dậu thái tuế và Dậu đại vận, mỗi Dậu có 1 hung thần có 0,25đh. Tuất tiểu vận có 1 hung thần có 0,13đh.
7 - Dậu đại vận tự hình Dậu thái tuế có 1đh, hại Tuất trụ giờ có 1đh và hại Tuất tiểu vận có 0,25đh (vì nó là lực thứ 3).
Dậu thái tuế bị hình nên vẫn hại được Tuất trụ giờ có 1đh và hại Tuất tiểu vận có 0,25đh (vì là lực thứ 3 bởi Dậu thái tuế và Dậu đại vận tự hình với nhau).
8 - Nạp âm Lửa dưới núi ở tuế vận có can Đinh vượng ở lưu niên nên khắc kim trang sức trụ năm, đất trên tường trụ tháng và đất mái nhà tiểu vận, vì vậy mỗi lực khắc có 1.1/3đh = 0,33đh (vì Đinh đã sử dụng 1,5đk), riêng lực khắc nạp âm tiểu vận chỉ có 0,33.1/4đh = 0,08đh (khắc nạp âm tiểu vận bị giảm 3/4 đh).
Lửa đỉnh núi trụ giờ có can Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận nên khắc đất trên tường và kim trang sức, vì vậy mỗi lực chỉ có 0,5đh .
9 – 2 Đinh ở tuế vận là Thương quan gặp Quan là Tân trụ năm nên mỗi Thương quan có 1đh (vì Đinh vượng ở lưu niên).

Tổng số là 9,81đh. Số điểm này không thể chấp nhận được.
Để phù hợp với thực tế của ví dụ này chúng ta phải đưa ra giả thiết (nay đã thành quy tắc chính thức) :
“270/49 - Nếu 3 chi của tam hội trong Tứ Trụ liền nhau thì tổng điểm hạn được giảm ½ chỉ khi có ít nhất 2 trụ của nó động”.

Nếu sử dụng giả thiết này thì ở đây trụ năm và trụ tháng động (vì có 2 can Tân hay 2 nạp âm của nó bị khắc, còn trụ ngày tĩnh vì can, chi và nạp âm của nó không tác động với bên ngoài), do vậy tổng điểm hạn được giảm ½ còn 9,81.1/2dp = 4,91đh. Số điểm này mới có thể chấp nhận được.

Cụ Thiệu Ung là một nhà dịch học nổi tiếng nên biết cách giải cứu. Thực tế gia phả của nhà cụ có viết “Mặc dù được vua mời ra làm quan trong triều đình nhưng cụ đã khước từ. Mãi đến khi qua năm Đinh Dậu cụ mới nhận lời và ra làm quan“. Qua đây chúng ta thấy đại vận Đinh Dậu là đại vận Thương quan (Đinh) gặp Quan (Tân ở trụ năm và tháng) và lại là đại vận có hình và hại (bởi vì có Dậu đại vận hại Tuất trụ giờ và tự hình Dậu thái tuế). Do vậy cụ biết đến năm Đinh Dậu tuế vận cùng gặp là năm hạn rất nặng, nên cụ vẫn chưa ra làm quan mà ở nhà để giải hạn (có thể cụ đã vào chùa hay sống ẩn dật trên núi cao hay rừng sâu để giải hạn).

Ta xét năm Đinh Tị
[Chỉ có Hội Viên mới xem được nội dung này.]

Cụ Thiệu Ung mất khi 66 tuổi, đó là năm Đinh Tị thuộc đại vận Ất Mùi, tiểu vận Mậu Thìn và Đinh Mão.
1 - Trong tứ trụ có tam hội Hợi Tý Sửu không hóa.
Vào đại vận Ất Mùi và năm Đinh Tị có Tị thái tuế xung hợi trụ năm và thêm Mùi đại vận xung Sửu trụ tháng cũng như giả sử đại vận Ất Mùi TKĐX với trụ tháng Tân Sửu và lưu niên ĐinhTị TKĐX với trụ năm Tân Hợi cũng không thể phá được tam hội này.
2 – Ta đã biết từ 65 tuổi đến 85 tuổi trụ mang vận hạn lại trở về trụ năm, nên tất cả các lực xung hay khắc vào trụ năm đều được tăng gấp đôi. Do vậy Lưu niên Đinh Tị TKĐK trụ năm Tân Hợi có 2.0,5đh (vì Đinh vượng ở lưu). Trụ tháng Tân Sửu TKĐX với đại vận Ất Mùi có 0,13đh (vì can Tân thất lệnh lại còn nhược ở tuế vận).
Có 4 trụ TKĐX với nhau nên có thêm 0,3đh.
3 - Dụng thần Đinh mộ ở lệnh tháng nên có 0,5đh và vượng ở lưu niên có -1đh.
4 - Nhật can Giáp nhược ở lưu niên có 0đh.
5 – Đinh lưu niên vượng ở lưu nên có -1đh can động và khắc 2 Tân nên mỗi lực có 0,7đh, nhưng lực khắc Tân trụ năm được tăng gấp đôi thành 1,4đh.
Ất đại vận vượng ở lưu niên có 0,5đh can động và khắc Mậu tiểu vận có 1.1/2.1/2 đh = 0,25đh (vì khắc trái dấu và khắc vào can tiểu vận). Ất còn có 1 cát thần có -0,25đh.
6 – Mùi đại vận hình Tuất trụ giờ có 1đh.
7 - Lửa đỉnh núi trụ giờ có can Giáp được lệnh nhưng nhược ở tuế vận nên chỉ khắc được đất trên tường trụ tháng và kim trang sức trụ năm có 1đh, vì vậy mỗi lực có 0,5đh, riêng lực khắc kim trang sức của trụ năm được tăng gấp đôi thành 1đh.
Cát trong đất lưu niên có Đinh vượng ở lưu nên khắc được kim trong cát của đại vận có 1đh.
8 – Đinh lưu niên là Thương quan gặp Quan là Tân ở trụ năm và trụ tháng nên mỗi Thương quan có 1đh (vì Đinh vượng ở lưu niên).
Tổng số có 6,91.1/2đh = 3,96đh (vì tam hội trong tứ trụ có 2 trụ của nó động). Số điểm này không thể chấp nhận được.
Để phù hợp với thực tế của ví dị này chúng ta phải đưa ra giả thiết (nay đã thành quy tắc chính thức) :
"186/(28;49) - Tam hội trong tứ trụ không hóa bị phá khi có ít nhất 2 trụ TKĐX với 2 trụ của nó còn tam hội hóa cục ngoài tứ trụ có 3 chi bị phá cả cục và hợp của nó".

Nếu sử dụng giả thiết này thì tam hội Hợi Tý Sửu trong tứ trụ bị phá.
Tổng số là 8,61đh (số điểm hạn được mô tả ở sơ đồ trên) và nó không được giảm ½ (vì tam hội cục đã bị phá). Vì số điểm hạn quá cao nên cách đây vài trăm năm nhà mệnh học Thiệu Ung đã không tự giải cứu được.
__________________
Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

thay đổi nội dung bởi: VULONG, 29-10-12 lúc 20:07
Trả Lời Với Trích Dẫn
Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "VULONG" về bài viết có ích này:
Trả lời
Đề tài tương tự
Ðề tài Người Gửi Chuyên mục Trả lời Bài mới
Danh ngôn về Đàn Bà thulankl Thư Giãn - Giao Lưu 1 03-05-11 10:18
Ma y thần tướng diễn thi hoa mai Nhân tướng học 1 14-03-11 05:38
Thông điệp từ những người anh hoa mai Khoa Học - Kỹ Thuật 4 12-03-11 00:02
Người Việt và tiếng Việt tại Úc hoa mai Xã Hội - Con Người 0 21-01-11 14:21


Tags
cao, cả, cấp, cho, do, học, lớp, mọi, người, tất, tứ, tự, trụ

Ðiều Chỉnh Tìm trong bài
Tìm trong bài:

Tìm Kiếm Chi Tiết
Xếp Bài

Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn không thể gửi đề tài mới
Bạn có thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi đính kèm
Bạn có thể sửa bài viết của mình

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ được tính theo giờ GMT +8. Hiện tại là 15:27.


Bản quyền thuộc về HUYỀN KHÔNG LÝ SỐ © 20-06-2009.
® Ghi rõ nguồn "HUYENKHONGLYSO.COM" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
Trang web chạy tốt nhất trên trình duyệt FireFox độ phân giải (1024x768)