Tên đăng nhập:
Bạn đã có tài khoản chưa?
Quên mật khẩu?
  • Đăng nhập / Ghi danh

    Trang 2/3 đầuđầu 123 cuốicuối
    kết quả từ 11 tới 20 trên 23
      1. #11
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        6. Đại Tướng Khách (Thủy)
        (Còn gọi là Ðại khách hay Tướng khách)
        Tướng khách, sao lành, được đức Thủy, là thần nước (có chỗ nói là Mộc tinh), chủ về Trí, ở Bắc phương.
        - Thân: khoa danh. Tý là vào miếu. Thìn là vào hầu. Hợi là cung mạnh. Cùng Đại Tướng Chủ chia quyền xem xét mọi việc.
        - Cùng Cung Thủy Kích là có chiến, ví được phương mạnh thì thắng. Chủ thắng là lợi chủ, khách thắng là lợi khách.
        - Nếu nghịch động Thủy kích thì khí hậu nóng lạnh không đều, dân đói to, dùng binh thì mất. Nó chủ tượng sát khí, chiến trường.
        Về Tuế Kể:
        - Khách Đại Tướng rơi vào sao Tâm, sao Phòng thì sinh động đất, triệu chứng sinh bệnh tật.
        - Nó rơi vào cùng cung Thái Ất ở cung 3, 7 thì Tuế Kể năm đó có động đất. Hoặc nó cùng cung với Đại Tiểu Tướng thì cũng có động đất.
        - Nó cùng Thái Ất ở cung 2, 8 thì năm đó nước lớn, nước dâng cao.
        - Nó gần cung Thái Ất trước hay sau đều là Bách (ép), Bách hay Hiệp là việc dưới bức trên hay ngoại quốc bức hiếp, hiện ở tuế can Giáp Ất là Đông Quốc bức, hiện ở Bính Đinh là Nam Quốc, Canh Tân là Tây, Nhâm Quý là Bắc, Mậu Kỷ là Trung Quốc, tự khởi binh.
        - Nó cùng cung với Văn Xương là Đề. Đề là nắm giữ thì xảy ra ngoại quốc lập mưu.
        - Chủ Đại, Chủ Tham đồng cung là Chặn ngăn (Tính) tức là xảy ra tranh chấp. Như Thái Ất ở 1, 8, 3, 4 (thiên nội) thì trợ chủ thắng. Ở 9, 2, 7, 6 (thiên ngoại) thì trợ khách thắng.
        - Nó đồng cung với Kể Thần gọi là mưu chủ, tỏ vịêc các chủ thần ngấm ngầm diệt nhau.
        Về Kể ngày:
        Bốn trụ Thân Mệnh người mà gặp: được nhiều phúc, tính vốn nóng thẳng, được nhiều cương liệt, dễ bạo thất. Tuổi Tân Nhâm: chủ công huân hiển hách. Tuổi Bính Tân là phước: mưu sâu khôn lường, lo trước khôn lường, định loạn trừ gian, lập biệt công.
        - Đi với Tiểu Du, mưu thâm lo xa, trí trá khác phàm, vua trồng đức của thánh nhân, làm yên họa loạn.
        - Cùng Thần Kể, phần nhiều có tài mưu (mưu thần) tướng sĩ hoặc giữ việc cơ mật.
        - Cùng cung Thủy Kích: thân cô, phá nghiệp tổ, hay vướng vào những việc quan nha.
        - Cùng Thiên Ất, Địa Ất, Tứ Thần, Phi Phù: trai gái góa bụa, không lợi sáu thân, ít thành, nhiều bại.
        - Cùng cung Quân Cơ: ở ngôi tướng soái.
        - Cùng cung Thần Cơ: oai chấn biên phương.
        - Cùng cung Tham Chủ nơi Hợi Tý: giàu lớn do buôn bán phát lớn.
        - Người âm gặp được: được phong ấp hiệu, phú quý toàn hai.
        - Cùng cung tham tướng: lo xa.
        - Cùng Ngũ Phúc, Tam Cơ: công huân lớn.
        - Cùng cung Ngũ Phúc trong Mạnh và ở Thân Mệnh, ở Thân, Tý, Thìn: tướng tài phó chúa sáng, vận ứng bậc chân tiên.
        - Cùng Phi Phù trong mạnh: anh hùng cương liệt, phú quý phát gấp.
        - Cùng các sao hung trong hãm (Tỵ Ngọ): tự do, cứng cổ.
        - Cùng Thủy Kích trong hãm (Mão, Tỵ, Ngọ) : trai sợ tiểu nhân hay người âm hại, gái nên sợ triệt trong ngoài, tức là số bị hãm.

        7. Tham Tướng Chủ (Tham chủ) và Tham Tướng Khách (Tham Khách)
        Tham tướng còn gọi là Tiểu tướng.
        Tham Chủ hành Thủy, Tham Khách hành Mộc.
        Hai tham Thủy - Mộc : Thủy ưa Bắc, Mộc ưa Đông. Hai tham cùng cung: tương tính, sát phạt, tiêu diệt nhau, như một rừng không thể hai cọp.
        Chủ Tham ép Thái Ất: mưu phản tại hậu cung. Tham chủ cùng tham khách ở cung sau Thái Ất: binh khởi.
        Sinh bởi Kim nên Tham chủ thuộc Thủy. Tham khách phụ cho Đại Khách nên thuộc Mộc.
        - Hai tham gặp Thân Mệnh tư trụ: tính vốn phiêu bồng.
        - Vào Đất Mạnh: đời nên phú quý, một tay làm nên.
        - Đến đất suy: một kiếp cô cùng.
        - Gặp được Văn Xương: văn tài nhưng kém tú.
        - Cùng Ngũ Phúc: nắm quyền cao, chức trọng.
        - Cùng Thần Cơ: thành danh, lập công nơi quân lữ.
        - Hội cùng Thủy Kích: dưới trăng quạnh quẽ, mớ bòng bong.
        - Gặp Thiên Ất, Địa Ất: nghèo khổ, nếu có Dân Cơ đến cứu giúp thì miễn khỏi cô hung.

        leminhchi

        Nguồn : tuvilyso.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      2. #12
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        Tiết khí là một đơn vị thời gian. Mỗi tiết 15 ngày, chia làm 3 hậu, vậy mỗi hậu chia làm 5 ngày. Quy đổi ra 12*5=60 giờ âm lịch. Trong một tiết hậu đầu gọi là thượng nguyên là khí lúc bắt đầu sinh. Hậu thứ 2 gọi là trung nguyên là lúc khí đang thịnh đã trưởng thành. hậu thứ 3 hạ nguyên, khí đã suy tàn.
        một năm có 4 mùa Xuân, hạ , Thu, Đông, mỗi mùa có 6 tiết, mỗi tháng có 2 tiết khí. Một năm có 24 tiết khí chia ra 12 tiết thuộc dương, 12 tiết thuộc âm.

        12 tiết thuộc dương bắt đầu từ đông chí là lúc bắt đầu khí dương sinh, cho đến ngày trước của tiết hạ chí
        Tiết Đông chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn, 3 tiết này phối quẻ Khảm.
        Tiết lập xuân, Thanh Minh, cốc vũ thuộc Chấn
        Tiết Lập Hạ, Tiểu mãn, Mang chủng thuộc Tốn.

        12 Tiết thuộc âm bắt đầu từ Hạ chí là lúc khí âm bắt đầu sinh đến ngày trước tiết Đông chí.
        Tiết hạ chí , Tiểu thử, Đại thử thuộc Ly.
        Tiết lập thu, Xử thử, Bạch lộ thuộc Đoài.
        Tiết lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết thuộc Càn.

        Chú ý: thực ra một tháng âm lịch có 2 tiết khí, Phần đầu gọi là tiết, phần sau gọi là khí. Tháng nhuận là tháng không có trung khí, Trung khí thì dương bắt đầu sinh. Tuỳ từng môn trong phương đông ngưòi ta quy định khởi đầu của tháng Dần trong năm,
        ví dụ như trong Độn giáp ứng tháng Dần Tiết Lập xuân, khí vũ thuỷ.
        Ví dụ trong lục nhâm đại độn tháng dần Khởi Khí Vũ thuỷ, tiết Kinh chập.Những thần sát của Lục nhâm lại vẫn xử dụng Dần là tiết Lập xuân, khí Vũ thuỷ.
        Nếu tiết khí có đủ 15 ngày thì có thể chia làm 3 hậu thương, trung, hạ nguyên.
        Trong trường hợp các tiết không đủ 15 ngày hoặc quá 15 ngày, thì người chiêm độn khi lập cục phải nắm 2 điều quan trọng.
        1, Tiết Lập xuân đến trước hay sau ngày mông 1 âm lịch.
        2,Các tiết có quá 15 ngày hay không đủ 15 ngày.

        TH 1: Tiết khí lập xuân đến trước hay sau ngày mồng một âm lịch thì phải căn cứ vào ngày , giwò Lập xuân để quyết định.
        TH 2: Các tiết khí không đủ 15 ngày hoặc quá 15 ngày. Thường thì các tiết khí có đủ 15 ngày chia làm thượng, trung, hạ nguyên, mỗi nguyên 5 ngày.
        Trong trường hợp mỗi tiết khí chỉ có 13, 14 ngày hoặc 16, 17 ngày, thì cần phải biết những ngày thiếu hoặc thừa thuộc nguyên nào.
        Các nhà lịch pháp đặt phép tính "Tam nguyên phù đầu" để giải quyết vấn đề trên.
        Pháp như sau:
        1, Các can Giáp, kỷ gia với Tý, ngọ, mão , Dậu là thượng nguyên.
        2, Các can Giáp, kỷ gia với Dân, thân, tị, hợi là trung nguyên.
        3, Các can giáp, kỷ gia với Thìn, tuất , sửu, mùi là Hạ nguyên.
        Cách dùng: Trong trường hợp tiết khí thừa hay thiếu ngày , xem Can chi của ngày thừa , thiếu để biết ngày đó thuộc vào nguyên nào.
        Ví dụ Kỷ mão thuộc thượng nguyên.

        Muốn lập được phương trình độn giáp, phải biết ngày chiêm thuộc cục nào, như vậy phải biết ngày đó thuộc tiết khí nào.
        12 tiết khí từ Đông chí đến mang chủng là dương độn, 12 tiết từ hạ chí đến Đại tuyết là âm độn. Tức " Dương tiết ứng dương độn, âm tiết ứng âm độn".
        Sau khi xác định được ngày đó thuộc dương, âm độn phải xem ngày đó thuộc tiết khí nào, sẽ biết ngày chiêm thuộc cục nào.
        Tiết khí của một tháng âm lịch có thời gian bình quân chính xác là 30 ngày lẻ 5 giờ 2 khắc. Trong 24 tiết khí, khí dài nhất có 15 ngày le 16 giờ .
        30 Ngày lẻ 5 giờ 2 khắc chia 6 cục độn giáp thừa 5 giờ 2 khắc là sai số.

        Để giải quyết vấn đề này người xưa dùng "Siêu thần", "Tiếp khí", Trí nhuận " pháp.
        Thời gian một cục bình quân 5 ngày , nhật can của ngày đầu mỗi cục nhất định là can kỷ hoặc giáp. Khi định cục bắt đầu là can giáp tiếp đến ất, bính, đinh, mậu cả thảy 5 ngày. Cục tiếp theo kỷ, canh, tân, nhâm, quý 5 ngày . Cục tiếp theo lại từ giáp...
        Đối với địa chi có quy luật tính cứ bất kỳ tiết khí nào cục có tý , ngọ, mão, dậu thuộc thượng nguyên.
        Đối với địa chi có quy luật tính cứ bất kỳ tiết khí nào cục có Dần, thân, tị, hợi thuộc trung nguyên.
        Đối với địa chi có quy luật tính cứ bất kỳ tiết khí nào cục có Thìn, Tuất, sửu, Mùi thuộc hạ nguyên.

        Phối thiên can địa chi ta có quy luật sau:
        Trong mỗi tiết khí thiên can địa chi của thượng nguyên là Giáp tý, Giáp ngọ, kỷ mão,Kỷ dậu.
        Trong mỗi tiết khí thiên can địa chi của thượng nguyên là Giáp dần, Giáp thân, kỷ tị,Kỷ hợi.
        Trong mỗi tiết khí thiên can địa chi của thượng nguyên là Giáp thìn, Giáp tuất, kỷ sửu,Kỷ mùi.

        Thông thường ngày đầu của thượng nguyên trong mỗi tiết không phải là ngày đầu của của tiết khí. Có khi tới trước tiết, có khi đến sau tiết, hãn hữu chúng mới trùng nhau.
        Ta gọi ngày đầu của thượng nguyên trong tiết là "Phù đầu".
        Thì người xưa định nghĩa:
        "Chính thụ": Phù đầu và tiết khí cùng ngày.
        "Siêu thần": Phù đầu đến trước tiết khí.
        "Tiếp khí" :Phù đầu đến sau tiết khí
        "trí nhuận": Phù đầu đến sớm 9,10,11 ngày chỉ xảy ra ở hai tiết Mang chủng và Đại tuyết ( là hai tiết chuẩn bị chuyển hoá âm, dương cục).
        TH đó ta tính cục từ ngày phù đầu có tính thượng trung hạ. Nhưng đây là siêu cục và tính ở tiết đại tuyết hoặc mang chủng. Đến ngày giáp kỷ đầu của tiết mang chủng, đại tuyết ta lại tính thượng trung hạ bình thường. Như vậy phần ngày dư ra thuộc về tiết trước mang chủng, đại tuyết đươc tính cho tiết đại tiết mang chủng ở dạng siêu cục.

        nguyenvu
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      3. #13
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        ví dụ minh hoạ
        Phi bàn kỳ môn âm độn cục 1 gồm tiết :
        Đông chí thượng
        Thanh minh trung
        Mang chủng thượng
        Lập hạ trung.
        Bồng tinh Trực phù hưu môn trực sứ.
        Giáp tý thời, ất sửu thời.
        Giáp tý tuần , Giáp tý thiên bồng, trực sứ hưu môn.
        Giáp, Kỷ nhật
        Giáp tý thời ( Cát cách) Cấn cung : đắc kỳ, đắc môn.
        Hung cách tinh, Môn, trực phù phục ngâm.
        Ất sửu thời
        Cát cách Đoài cung:Thiên độn, trực trá; Càn cung :địa giả; Ly cung: tương tá.
        ....vv

        9/9/05 Giáp Ngọ Bạch Lộ thượng Âm 9 cục, giờ Tân Mùi
        Giáp Tí tuần Trực Phù Thiên Anh, trực sử Cảnh Môn
        Thiên Anh lạc Càn, Cảnh Môn lạc Khôn


        7/8/05 Lập Thu, Mậu Ngọ thời chiêm.
        7/8 Qúi Hợi nhật, Mậu Ngọ thời Đại Thử hạ Âm 4 cục
        Giáp dần tuần Trực Phù Thiên Nhậm Trực Sử Sinh Môn
        Thiên Nhậm lạc Tốn, Sinh Môn lạc Ly


        21/06/05 Kỹ Mão Mang Chủng hạ Dương 6 cục Giáp Tí tuần giáp tí thời

        Trực phù Thiên Tâm, trực sử Khai môn
        Tinh, môn trực phù phục ngâm


        Nguồn : tuvilyso.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      4. #14
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        Âm độn 3 cục, giờ Kỷ Tỵ



        Bản Lục Nghi Tam Kỳ

        Mậu .........3, Giáp Tý, Thiên Xung, Thương

        Kỷ ............2, Giáp Tuất, Thiên Nhuế, Tử

        Canh ........1, Giáp Thân, Thiên Bồng, Hưu

        Tân ..........9, Giáp Ngọ, Thiên Anh, Cảnh

        Nhâm ......8, Giáp Thìn, Thiên Nhậm, Sinh

        Quí ..........7, Giáp Dần, Thiên Trụ, Kinh

        Đinh ........6, Thiên Tâm, Khai

        Bính ........5, Thiên Cầm,

        Ất ............4, Thiên Phụ, Đổ



        Giờ Kỷ Tỵ phù đầu là Giáp Tý ẩn tại Mậu 3 (Cung 3), có sao là Thiên Xung, và môn là Thương, cho nên trực phù là Mậu 3 Thiên Xung, và trực sử là Thương Môn.

        Can giờ là Kỷ, trong bản lục nghi tam kỳ là Kỷ 2 cung, vì vậy trực phù gia thời can lâm Kỷ 2 vậy.

        Chi giờ là Tỵ, từ phù đầu là Giáp Tý tại Mậu 3, thì Ất Sửu là Kỷ 2, Bính Dần Canh 1, Đinh Mão Tân 9, Mậu Thìn Nhâm 8, và Kỷ Tỵ là Quí 7, cho nên trực sử gia thời chi là lâm cung Quí 7 vậy. Tóm lại ta có công thức như sau

        Trực Phù: Mậu 3, Thiên Xung

        .........................Kỷ 2



        Trực Sử: Thương Mon

        .....................Quí 7

        An Sao

        Từ địa bàn Thiên xung cung 3 mà đi tới cung 2, đếm thuận là đi qua 3 cung, cho nên các sao khác đều di chuyển thuận chiều kim đồng hồ qua 3 cung, cho nên ta có

        Thiên Xung địa bàn cung 3 bay đến cung 2 trên thiên bàn,

        Thiên Phụ địa bàn cung 4 bay đến cung 7 trên thiên bàn,

        Thiên Anh địa bàn cung 9 bay đến cung 6 trên thiên bàn,

        Thiên Nhuế địa bàn cung 2, bay đến cung 1 trên thiên bàn,

        Thiên Trụ địa bàn cung 7, bay đến cung 8 trên thiên bàn,

        Thiên Tâm địa bàn cung 6, bay đến cung 3 trên thiên bàn,

        Thiên Bồng địa bàn cung 1, bay đến cung 4 trên thiên bàn,

        Thiên Nhậm địa bàn cung 8, bay đến cung 9 trên thiên bàn,

        Thiên Cầm thì dương độn theo sao của cung Khôn là sao Thiên Nhuế, âm độn thì theo sao của cung Cấn là sao Thiên Nhậm (Nam Khôn, Nử Cấn). Nhưng có nhiều sách thì chỉ dùng sao cung Khôn Thiên Nhuế cho cả âm lẩn dương.

        Để tính trên bàn tay được dể dàng, ta chỉ cần nhớ thứ tự các sao như sau Bồng, Nhậm, Xung, Phụ, Anh, Nhuế, Trụ, Tâm thì ta có thể an các sao trên thiên bàn dể dàng. Sau khi an được Trực Phù vào cung 2 trên thiên bàn, thì ta theo thứ tự chiều kim đồng hồ mà an tiếp các sao (đọc như thứ tự trên) Phụ 7, Anh 6, Nhuế 1, Trụ 8, Tâm 3, Bồng 4, Nhậm 9.



        An Môn

        Từ địa bàn Thương môn cung 3 mà đi tới cung 7, đếm thuận là đi qua 4 cung, cho nên các môn khác đều di chuyển thuận chiều kim đồng hồ qua 4 cung, cho nên ta có

        Thương môn địa bàn cung 3 chuyển thuận đến cung 7 trên thiên bàn,

        Đổ môn địa bàn cung 4 chuyển thuận đến cung 6 trên thiên bàn,

        Cảnh môn địa bàn cung 9 chuyển thuận đến cung 1 trên thiên bàn,

        Tử môn địa bàn cung 2 chuyển thuận đến cung 8 trên thiên bàn,

        Kinh môn địa bàn cung 7 chuyển thuận đến cung 3 trên thiên bàn,

        Khai môn địa bàn cung 6 chuyển thuận đến cung 4 trên thiên bàn,

        Hưu môn địa bàn cung 1 chuyển thuận đến cung 9 trên thiên bàn,

        Sinh môn địa bàn cung 8 chuyển thuận đến cung 2 trên thiên bàn.

        Để tính trên bàn tay được dể dàng, ta chỉ cần nhớ thứ tự môn như sau, Hưu, Sinh, Thương, Đổ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai. Sau khi an Thương môn vào cung 7 trên thiên bàn, thì ta lần lượt an luôn các môn Đổ 6, Cảnh 1, Tử 8, Kinh 3, Khai 4, Hưu 9, Sinh 2.



        An Bát Thần

        Bát thần là Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trần (hoặc Bạch Hổ), Huyền Vũ, Cữu Địa, Cữu Thiên. Có 2 cách an, một theo Trực Phù nơi địa bàn, hai theo Trực Phù trên thiên bàn. Sách hán văn thì có quyển an theo địa bàn, có quyển an theo thiên bàn. Còn các sách Việt thì đều an theo thiên bàn cả.

        Cho nên ta dùng cách thiên bàn vậy. Trước hết an thần Trực Phù vào cung đả an trực phù sao (Thiên Xung trong thí dụ trên) trên thiên bàn. Sau đó lần lược an các thần theo thứ tự trên, âm độn thì đi nghịch chiều kim đồng hồ, dương độn thì đi thuận. Vì vậy thần Trực Phù vào cung 2 trên thiên bàn, Đằng Xà 9, Thái Âm 4, Lục Hợp 3, Bạch Hổ 8, Huyền Vũ 1, Cửu Địa 6, và Cửu Thiên 7 (nghịch chiều đông hồ nên 2,9,4,3,8,1,6,7. Như là dương độn theo chiều kim đồng hồ thì ta đi 2,7,6,1,8,3,4,9 vậy)

        VinhL
        Nguồn : tuvilyso.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      5. #15
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default Bài ca về Giáp ẩn đầu khoá của độn giáp

        1.Can trời rộng xét.Mệnh đất cầu tinh.
        2.Mệnh đất đuổi can trời hoạ theo ngoài dậy
        Can trời đuổi mệnh đất nạn tự trong sinh.
        3.Đất hợp trời việc gì cũng thoả.
        Trời hợp đất mong muốn đều thành.
        4.Tôn trời trên mệnh can :bằng an khg ngại.
        Tôn Hợp úp mênh can:công việc thông hanh
        5.Thái âm trên thì việc bỏ dỡ
        Đằng xà trên thì sợ kinh
        6.Huyền vũ trên mệnh can:phòng trộm đến
        Bạch hổ trên can mệnh:đáng sợ bênh sinh
        7.Lục hợp trên :việc cầu có lợi
        Cửu địa gặp:tai nạn nảy ngành
        8.Canh mang xám(huyền vũ) mà trên mệnh can:phòg gian trg trướg.
        Qúy gặp rùa(h.vũ) mà úp mệnh can:ngừa kẻ cướp doanh
        9.Quý Hổ trên can thì họa mọc
        Quý rắn(xà) trên mệnh:sự biến sinh
        10.Quý che mệnh mà 4 bức lưới cao:bệnh nặng
        Qúy che mệnh mà lưới cao vài thước:bệnh ấy thường khinh
        11.Tân che :đứng ngồi :phòg tội vạ
        Nhâm úp:đi lại vươg mình
        12.Ất phủ can trời:người sang gíup đở
        Bính che mạng đất:việc khốn sợ kinh
        13.Gặp Đinh:cát thần che chở
        Gặp Mậu:muôn dặm ruổi dong
        14.Sáu Kỷ trên mệnh can:(việc)kín thì lợi,(việc)hở thì khg lợi
        Canh trên mệnh can:nhà chẳng an,mà nước cũng chẳng lành
        15.Hưu trên mệnh :giữ:nguy,hoà:tốt
        Sinh trên can:Giữ:bại,hoà :mừng
        16.Thương trên mệnh:giữ:khg tốt,hòa:cũng khg tốt
        Đổ trên mệnh:hoà:việc thành,giữ:việc khg thành
        17.Cảnh trên mệnh:giữ,hoà:nữa tốt
        Tử trên mệnh:hoà,giữ:nguy mình
        18.Mệnh thấy Kinh:hoà:rất sợ,giữ:cùng rất sợ
        Mệnh thấy Khai:hòa :nên vinh,giữ:cũng nên vinh

        thienhung_wu
        Nguồn : tuvilyso.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      6. #16
        Tham gia ngày
        Nov 2009
        Bài gửi
        119
        Cảm ơn
        70
        Được cảm ơn: 69 lần
        trong 39 bài viết

        Default

        em cũng có 1 thời gian học thái ất,nhưng em học đến mức sắp thần kinh mà cũng ko sao hiểu được lý lẽ uyên áo trong đó.em nghe nói khi xưa khi học thái ất cụ NGUYỄN BỈNH KHIÊM cũng gặp rất nhiều khó khăn.chỉ đến khi nghe được câu hát của người điên mà mới ngộ ra bí quyết,ko biết truyền thuyết nay có thật hay ko vậy chị.
        theo chị.khi học thái ất cần phải có yếu quyết gi ko.để có thể hiểu được.em cũng học nhưng giống như người mù đi đêm vậy.chẳng sao ma hiểu nổi.chị có thể giải thích giùm em được ko
        Vạn Lưu Quy Tông

      7. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "tuyettinh09" về bài viết có ích này:

        htruongdinh (19-12-09)

      8. #17
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        hihihi...các môn huyền học khác khoa học. Học yếu quyết thì dể nhưng ngộ chứng thì tùy cá nhân mỗi người. HTD cũng chưa đạt được điều này.
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      9. Danh sách Hội Viên đã cảm ơn "htruongdinh" về bài viết có ích này:

        tuyettinh09 (19-12-09)

      10. #18
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        Ðộn Giáp là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn). Có sách thêm hai chữ "Kỳ Môn" ở trước và có tên gọi là Kỳ Môn Ðộn giáp. Ðộn Giáp là môn tính toán căn cứ vào sự tiêu trưởng của Âm Dương để đặt ra những nguyên tắc và định lý quyết đoán sự diễn tiến cát hung của sự vật .

        Có thể coi tam thức là ba mô thức thuật số cơ bản của lý số đông phương, trong đó Thái ất được xếp đứng đầu trong tam thức , chủ yếu nghiên cứu các tính toán liên quan đến sự hưng vong của các triều đại, các trận pháp ở tầm cỡ chiến lược. Trong tam thức, nếu như Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất thì Ðộn Giáp, lại thiên về Ðịa, nó nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý, phong thủy đối với con người.

        Độn giáp ứng dụng vào quân sự là chủ yếu, ngày nay với tư duy " thị trường là chiến trường" thì độn giáp cũng có chỗ đứng trong vấn đề kinh doanh, ngoài ra độn giáp còn là công cụ cơ bản trong tính toán địa lý "tam hợp" điều này cũng nói lên sự liên quan mật thiết giữa độn giáp với yếu tố "Địa" trong hệ thống tam tài Thiên, Địa, Nhân.

        Lục Nhâm Đại độn có vị trí khiêm tốn hơn cả, giải quyết những vấn đề liên quan đến chiêm bốc cát hung của ngượi Ở đây yếu tố nhân sinh nổi trôi.
        Rất nhiều sách nói nhìn trong hệ thống Tam tài thì Thái ất biểu hiện về "THiên", Độn giáp biểu hiện cho " Địa", Lục nhâm đại độn biểu hiện cho "Nhân", xem ra cũng có nhiều ý nghĩa xác thực. Chúng ta tiến hành xem ý nghĩa của kỳ môn độn giáp:

        "Độn" trong tiếng Trung Quốc có nghĩa là ẩn đi, Giáp là mã đầu trong hệ thập can, một hệ mã long cốt mang tính cơ sở đo đếm thiên, địa, nhân.
        Các học giả cho rằng Can giáp đứng đầu trong các Can nay ẩn nó thì thì " Cát". Được rút ra theo ý nghĩa của hào dụng cửu quẻ Càn " Quần long vô thủ cát"
        Nghĩa là bày rồng không dầu cát. Tại sao lại như vậy, trong sách dịch nói rồng tượng trưng cho người có tài có đức, cùng hợp tác với nhau mà không có người đứng đầu. Theo quan điểm về quản lý mà nói các nhóm làm việc với nhau phân ra hai hình thức hợp tác cơ bản.

        1. Bắt tay
        Phù hợp với các nhóm làm việc có nhiều người giỏi và có phương pháp phối hợp với nhau khoa học, hiểu biết.

        2. Điều khiển
        Phù hợp với những nhóm người có trình độ nhận thức chưa cao, cần có sự thúc ép chỉ dẫn và trong trường hợp này thì nhu cầu có người lãnh đạo là cần thiết.

        Phải chăng câu quân long vô thủ cát ứng với trường hợp 1 và dịch lý cho rằng cát.

        Kỳ môn: tách làm 2 :
        - Kỳ gồm có tam kỳ, Ất kỳ, Bính kỳ, Đinh kỳ. Trong Ất kỳ tương ứng với Nhật, Bính kỳ tương ứng với Nhật, Đinh kỳ tương ứng với tinh tú
        - Môn là cửa, trong độn giáp bao hàm nghĩa rộng hơn là 8 phương hướngchiến lược hành động cơ bản.

        Độn giáp có tầm quan trọng theo nghĩa hẹp giúp cho quan lại trong chế độ phong kiến có được phương hướng chiến lược trong lĩnh vực quân sự. Nghĩa rộng hơn giúp cho những yếu nhân cai trị các mặt chính của đời sống xã hội, như Chính trị, kinh tế, giáo duc...vv.

        Học thuyết độn giáp được hình thành trên cơ sở của các mô hình : Tam tài( Thiên địa nhân), Can chi, âm dương ngũ hành. Tiên thiên bát quái , hậu thiên bát quái, cửu cung phi tinh. Hiện nay có nhiều trường phái độn giáp được phát triển ở Trung Hoa lục địa và rực rỡ ở Đài Loan. Nhưng thông dụng nhất vẫn là Thời gia kỳ môn học, sau đó phải kể đến niên gia kỳ môn học, nguyệt gia kỳ môn học, nhật gia kỳ môn học.

        Bát môn bao gồm: Hưu, thương, đỗ, cảnh, tử, kinh, khai, sinh. Trong đó phân ra tính cát hung mang tính tổng quátt như sau :

        Hưu, Khai, sinh: Cát môn
        Cảnh : trung tính, có trường phái cho rằng cảnh là Cát mộn
        Kinh, thương, tử : Môn hung.
        Cửu tinh gồm: Bồng, nhuế,xung, phụ, tâm , trụ, nhậm, anh, Tâm.
        Hung tinh ung, bồng ,nhuế, trụ
        Cát tinh :Tâm, Nhậm, cầm, Phụ.
        Anh thú cát
        Bát thần :Trực phù( còn gọi là tiểu trực phù), Đằng xà, thái âm, Lục hợp,bạch hổ, huyền vũ, cửu địa, cửu thiên.

        Các bước thiết lập thông số tính toán với trường phái nhật gia kỳ môn độn giáp:

        1. Ngày giờ chiêm độn
        2. Tiết khí
        3. Tam nguyên phù đầu
        4. Âm dương cục số
        5. Phù đầu nghi
        6. Lập công thứ
        7. tìm trực phù trực sứ
        8. Tìm tam kỳ lục nghi, bát môn, bát thần
        9. Độn giáp diễn quái
        10. Tím thế ứng
        11. Nạp giáp
        12. An thế ứng
        13.Tìm tứ cát, tam kỳ
        14.tìm lộc mã quí.

        Để hỗ trợ cho việc lên thông số trên người ta thường sử dụng bàn độn giáp, dưới đây là la một ví dụ về bàn độn giáp.
        Để tiện dụng không nhớ vẫn có thể dùng được tốt nhất lên làm một bàn độn giáp độ 5 vòng thì có thêm cả tiết khí vào cho dễ tính. Các cach cát hung làm thành bảng phối với bàn độn giáp, thi được cách rồi tra thêm ý nghĩa của cách luôn. Chỉ việc lập bảng tinh âm dương ngũ hành , sinh vượng... đây mới là việc của người học độn giáp. Cũng có thể lấy tiết khí, can ngày, can chi giờ tra luôn sách họ làm cho hết từ cách cát, hung trên từng cửa luôn (có 1080 cách cục làm sẵn). Nếu muốn cầu tài, quan, lộc thì phải xem trong quẻ độn có không, nếu có thì ở phương nào, muốn tính được phải chuyển về quái kinh dịch nạp lục thân, so với lộc mã quý từ can chi giờ chiêm, nếu có trong quẻ thi mới có và suy ngược ra phương vị thời giờ. Tất nhiên có thể phối thêm thập nhị bát tú, thần sát thêm vào... và phức tạp hơn.

        Cái bí quyết để tính độn giáp nằm ở cân cac yếu tố âm dương ngũ hành, phối mệnh chủ, thời gian có như vậy mới ra được những phương thức nghi binh ở cửa nào, phục binh ở cửa nào, khi nào có thể dùng biến tử thành sinh...


        (theo Nguyên Vũ)
        Nguồn : vuiveclub.net
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      11. #19
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        NẠN ÁCH DƯƠNG CỬU của Thái dương Ất.
        NẠN ÁCH ÂM LỤC của Thái âm Đinh.
        HỘI 2 NẠN ÁCH DƯƠNGCỬU + ÂM LỤC của Hệ mặt trời.
        1)Trước tiên ta tính nạn Âm lục vì rõ ràng hơn.
        Theo các sách lưu truyền thì muốn biết nạn Âm lục vào năm nào sẽ đến ta lấy số tuế tích năm đang tính cộng với số doanh sai 2050 rồi chia cho 288, số dư từ 1 đến 9 là những năm quả đất bị nạn Âm lục, có lúc 3năm, có lúc 5năm, có lúc 7năm, có lúc 9năm.số dư còn lại tuỳ lúc từ 4, từ 6, từ 8, từ 10 đến 288 là những năm quả đất không bị nạn Âm lục,
        Ta thấy số 2050 chia cho 288 thì được 7 vòng và dư 34 năm, vậy để gọn hơn ta lấy số tuế tích cọng với số doanh sai 34 rồi chia cho 288 thì kết quả cũng thế.Mà 34 năm trước khởi nguyên thời gian (00.000.001) cộng với 2 năm sau khởi nguyên (00.000.002) là 36 năm thuộc quẻ Khôn của Thái âm Đinh và cứ thế sau 288 năm ta lại có 36 năm thuộc quẻ Khôn...v.v......
        (Xem lại vòng Đại du của Thái âm Đinh)
        Vậy ta đi dến kết luận: Nạn ách Âm lục của Thái âm Đinh xảy ra cho quả đất khi nào vòng Đại du của Thái âm Đinh đi tới quẻ Khôn ở 9 năm đầu trong 36 năm nó đóng ở quẻ ở quẻ này.
        2) Nạn Dương cửu:
        Theo sách vở thì: Lấy tuế tích cộng 130 rồi chia cho 456,số dư thì không nói rõ bao nhiêu là những năm quả đất bị nạn Dương cửu, nhưng như trên ta cũng có thể cho là từ 1 đến 9 năm vậy.
        Theo cách này ta thử tính năm 00.000.456 là:
        ( 00.000.456+130) : 456 = 1 dư 130 .Vậy số dư từ 1 đến 9 trong 130 tức là 9năm tiếp sau năm 00.000.456 thì quả đất phài bị nạn Dương cửu hoặc 3năm, hoặc 5năm, hoặc 7năm, hoặc 9năm.Tính quẻ vòng Tiểu du Thái dương Ất 3 năm 00.000.457, 00.000.458, 00.000.459 thí Thái dương Ất ở quẻ Càn (Xem lại vòng Tiểu du của Thái dương Ất) và cứ thế sau 456 năm ta lại có 3 năm thuộc quẻ Càn nữa nữa...v.v...Trong khoảng thời gian 456 năm có rất nhiều lần Thái dương Ất nằm ở quẻ Càn vì vòng Tiểu du chỉ có 24 năm, nhưng không thấy đề cập đến nạn gì cả, chỉ có 3, 5, 7, 9 năm sau chu kỳ 456 năm thì mới có nạn Dương cửu mà thôi.
        Vậy con số doanh sai 130 không có vai tró gì trong cách tính nạn Dương cửu này cả vì vòng Tiểu du được tính từ năm 00.000.001.
        Ta thử tính vòng Tiểu du khởi đầu từ 130 năm trước năm khởi nguyên thời gian 00.000.001 xem sao, mặc dù cách tính này thì vô lý choThái dương Ất vì phần Dương thì phải khởi đầu từ năm khởi nguyên là 00.000.001 vậy. Nếu cách tính này là đúng thì chúng ta đành phải đổi lại năm khởi nguyên thời gian trước năm 00.000.001 là 130 năm thôi !

        Ta cũng tính cho năm 00.000.456 thì:
        (00.000.456+130) :24 = 24 dư 10.
        10 năm thì Thái dương Ất đã qua 3 quẻ Càn, Ly, Cấn và đang ở quẻ Chấn được 1 năm.và cứ thế sau 456 năm ta cũng có Thái dương ẤT nằm ở quẻ Chấn nữa nữa..v.v...( vì 456 là số chia hết cho 24)
        Vậy theo cách này thì nạn ách Dương cửu cũng xảy ra sau từng chu kỳ 456 năm tính từ khởi nguyên 00.000.001 nhưng Thái dương Ất nằm ở quẻ Chấn chứ không thuộc quẻ Càn.
        So sánh 2 cách tính cho ra 2 quẻ Càn và Chấn với vòng Đại du Thái âm Đinh cho ra quẻ Khôn ( nạn Âm lục ) thì ta phải chọn cách tính trên vì:
        * Âm và Dương luôn luôn đối nhau, bên kia Khôn thì bên này phải Càn..
        * Cách tính dưới khởi đầu vòng Tiểu du Thái dương Ất trước năm khởi nguyên 130 năm là sai với nguyên lý Âm Dương đã được chọn từ ban đầu của TSTA và chung cho nhiều thuật số khác nữa.
        Như vậy là con số doanh sai 130 phải bị loại bỏ, nhưng còn con số 456 thì ở đâu mà có ra? Việc này thì đành chịu thua,Con số này đúng hay sai ta cứ tạm gác lại đấy vì 1 câu hỏi lớn hơn là: Khi phần Âm tại Khôn tạo nạn ách Âm lục thì phần Dương cũng đang ở một quẻ nào đấy và phải có tác động đối kháng lại chứ ? Hoặc khi phần Dương ở tại Càn tạo nạn ách Dương cửu thì phần Âm cũng đang ở một quẻ nào đấy và cũng có tác động đối kháng lại vậy ?
        Thế nên từng nạn riêng lẻ Dương cửu hay Âm lục chỉ tác động đến thời khí quả đất cũng như con người ở một chừng mức nào thôi tuỳ thuộc vào phần bên kia tương tác với nó thế nào. Ta có thể cứ nhìn vào 2 quẻ chủ và các sao khí của chúng mà phán đoán là được.
        Câu hỏi kế tiếp là: K hi 2 nạn ách DC và AL cùng xảy ra trong cùng 1 thời gian thì sao? Đây là vấn đề Hội 2 nạn ách tiếp sau đây...

        Thiện Nhơn
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      12. #20
        Tham gia ngày
        Jun 2009
        Bài gửi
        901
        Cảm ơn
        801
        Được cảm ơn: 884 lần
        trong 441 bài viết

        Default

        Theo từ "Hội ách " mà sách vở xưa nay vẫn dùng, ta nghĩ ngay là những năm nào Thái dương Ất ở Càn mà Thái âm Dinh ở Khôn (tức là những năm quẻ Thái ất hằng năm mang tên là Địa thiên thái ) thì quả đất sẽ bị tác động xấu nhất, vì phần Dương đang tạo nạn Dương cửu và phần Âm đang tạo nạn Âm lục,nhưng xét quan hệ bát biến với quả đất thì Càn- Cấn là tốt, còn Khôn - Cấn tuy không tốt ( Xem lại phần phán đoán các quẻ Tiểu du và Đại du) nhưng quan hệ 2 quẻ Càn-Khôn ( Địa thiên thái) lại tốt, nên xét ra thì quả đất chỉ bị nạn Âm lục mà thôi..Như thế thì từng nạn riêng lẻ ảnh hưởng tới quả đất cũng chảng nặng nề gì như đã trình bày ở trên.
        Cũng vì thế những nhà sưu tập mới dựng ra một cách tính 2 nạn ách hội lại là khi Thái âm Đinh nằm ở Khôn, và Thái dương Ất nằm ở Tốn.vì họ cho rằng Khôn thì cực âm, còn Tốn thì dương tuyệt.Cách tính này thế nào ta sẽ xem xét sau, nhưng theo suy luận này thì khi Thái dương Ất nằm ở Càn và Thái âm Đinh nằm ở Doài cũng phải xảy ra 2 nạn ách hội lại vậy.Nhưng các sách vở còn lưu lại không thấy đề cập gì đến cách này.
        CÁCH TÍNH HỘI 2 NẠN ÁCH : ÂM KHÔN + DƯƠNG TỐN
        Phần Thái âm Đinh thuộc quẻ Khôn thì như trên đã biết:
        Vòng 1: là trước khởi nguyên thời gian 34 năm cộng với 2 năm sau khởi nguyên tức là đến hết năm 00.000.002. Trong 36 năm này thì Thái dương Ất chỉ ở quẻ Càn có 2 năm 00.000.001 và 00.000.002 nên không có hội 2 nạn ách.
        Vòng 2 thì bắt đầu sau năm ( -34) + ( + 288 ) tức là sau năm 00.000.254. Trong 36 năm tiếp sau 00.000.254 thì có 2 lần Thái dương Ất nằm ở quẻ Tốn : Lần 1 là 3 năm 00.000.262, 00.000.263, 00.000.264 ( Xem lại cách tính vòng Tiểu du ). Tuy không nằm trong 9năm đầu tiên nhưng 3 năm này vẫn phải là những năm hội ách vì Âm Khôn gặp Dương Tốn.lần đầu tiên. Và cứ thế tính tiếp tục thì hội 2 nạn ách sẽ bắt đầu vào các năm:
        00.000.262+ 288 tức là năm 00.000.550
        00.000.262+ 288+288 tức là năm 00.000.838
        .00.000.262+288+288+288 ...........
        .............v . v.......
        ( Vì 288 là số chia hết cho 24.)
        Lần 2 là 3 năm 00.000.286, 00.000.287, 00.000.288. tức là sau 3 năm ở trên 24 năm Nếu căn cứ vào quy tắc Âm Khôn gặp Dương Tốn là hội 2 nạn ách thì 3 năm này cũng là những năm hội ách dù cũng không nằm trong 9 năm đầu của Thái âm Đinh ở Khôn. Và cứ thế tính tiếp tục thì cũng sau từng vòng 288 năm sẽ xảy ra nạn hội ách lần kế tiếp v.v....
        Từ cách tính như trên ta dễ dàng tính hội 2 nạn ách DƯƠNG CÀN + ÂM ĐOÀI, nhưng theo suy luận riêng thì : Khí bản thể của Mặt trời ( phần Dương ) phải Tuyệt Dương ở Khôn, còn Khí bản thể của Các Hành Tinh ( phần Âm ) phải Tuyệt Âm ở Càn thì mới hợp lý vì Khí của Mặt trời Thuần Dương ở Càn, dịch chuyển giao động ở Ly, Cấn, Chấn, Đoài thì kém dần nên đến Khôn thì tuyệt mới đúng.Sau đó là phục hồi ở Khảm, Tốn để rồi Thuần Dương trở lại ở Càn....v.v.....
        Còn Khí của Các Hành Tinh thì Thuần Âm ở Khôn, dịch chuyển giao động ở Khảm, Tốn rồi Tuyệt Âm ở Càn (Vì quả đất ở gần Mặt trời hơn so với Tâm của các hành tinh ) và phục hồi dần ở Ly, Cấn, Chấn, Đoài để trở lại Thuần Âm ở Khôn ..v.v....
        Thế nên Công thức để tính Hội 2 nạn ách phải là:
        * Nạn Dương : DƯƠNG CÀN + ÂM CÀN ( tức quẻ Thái ất hằng năm là Thuần Càn)
        * Nạn Âm : ÂM KHÔN + DƯƠNG KHÔN. (tức quẻ Thái ất hằng năm là Thuần Khôn)
        Nạn Dương thì năng lượng Mặt trời cực đại trong khi năng lượng Các Hành Tinh cực tiểu, còn Nạn Âm thì ngược lại. Năng lực của chúng gây cho quả đất thế nào thì còn tuỳ thuộc vào từng vùng, địa hình sông núi, đất liền biển cả .v.v....
        Riêng đối với Địa bàn Giáp thì còn tuỳ thuộc vào các sao khí của từng Cung nữa
        Sau đây là cách tính cho 2 công thức này:
        Chào mừng bạn đến với huyền không lý số

      Trang 2/3 đầuđầu 123 cuốicuối

      Đề tài tương tự

      1. Tìm hiểu Tứ trụ
        By kimcuong in forum Tử bình
        Trả lời: 51
        Bài mới: 09-01-11, 17:54
      2. Cháu / em cần thỉnh sư phụ về Kỳ Môn Độn Giáp
        By dualathlon in forum Thư Giãn - Giao Lưu
        Trả lời: 0
        Bài mới: 09-12-09, 00:34
      3. Tam Kỳ luận thế nào ?
        By Khôi Tinh in forum Tử bình
        Trả lời: 16
        Bài mới: 08-12-09, 12:38
      4. Tính cách theo 12 con giáp(sưu tầm)
        By tom in forum So tuổi Hôn nhân & Gia đình
        Trả lời: 19
        Bài mới: 03-12-09, 07:09
      5. Nhờ ai cao tay, hiểu rộng giúp đỡ!
        By Kyti in forum Nhờ xem Tử Vi
        Trả lời: 6
        Bài mới: 19-11-09, 02:50

      Tags for this Thread

      Quuyền Hạn Của Bạn

      • Bạn không thể gửi đề tài mới
      • Bạn có thể gửi trả lời
      • Bạn không thể gửi đính kèm
      • Bạn có thể sửa bài viết của mình
      •